Thứ Hai, 7 tháng 5, 2012

Những doanh nghiệp trả lương cho nhân viên cao nhất thế giới

Tôi đọc trên báo Pháp luật Tp. Hồ Chí Minh số ra ngày 07/4/2010 có bài viết về những doanh nghiệp trả lương cho nhân viên cao nhất thế giới. Chúng ta cùng đọc, tìm hiểu nguyên nhân và cách thức làm việc của các doanh nghiệp này. Qua đó ta có thể suy nghĩ được một trong những cách thu hút nhân tài về doanh nghiệp của mình là tiền lương bạn trả cho họ như thế nào và bạn cần gì, khai thác gì ở họ.
Chế độ lương, thưởng vốn được coi là một trong những “thỏi nam châm” có sức hút mạnh mẽ nhất trong chiến lược thu phục nhân tài của các tập đoàn lớn trên thế giới. Thế nhưng, không ít người sẽ phải kinh ngạc với mức thu nhập hơn 300.000 USD mà một số tập đoàn lớn trả cho nhân viên của mình.
Điều thú vị là đa số các tập đoàn nằm trong danh sách này đều hoạt động trên lĩnh vực tư vấn luật pháp và khai thác dầu khí.

1. Baker Donelson


Thu nhập trung bình hàng năm của nhân viên: $319,779

Baker Donelson là một công ty cổ phần hoạt động trong lĩnh vực tư vấn pháp luật và chuyên cung cấp luật sư cho các vụ trọng án. Cổ phần của công ty này được chia đều cho 279 luật sư có tên tuổi hoạt động lâu năm trong ngành và hàng năm, những người nắm giữ cổ phần này có mức lương trung bình là $319,779.

Tất nhiên, đây chỉ là thu nhập trung bình của những người năm giữ cổ phần còn các nhân viên thông thường của Baker Donelson thì chỉ được lĩnh khoảng trên dưới $ 50,000 hàng năm.

Một trong những chiến lược của công ty là cố gắng phát huy tinh thần làm việc theo nhóm. Mỗi ngày, các nhân viên phải dành ra khoảng 15 phút đầu giờ sáng để cùng chia sẻ thông tin và tiến độ công việc của mình. Ba nguyên tắc chính mà nhân viên của Baker Donelson phải tuân thủ là (1) Đi làm đúng giờ, (2) Hoàn thành công việc đúng tiến độ, (3) Không gây rắc rối và không tham gia vào những việc không phải phận sự của mình.

2. Salesforce.com

Thu nhập trung bình hàng năm của nhân viên: $249,607

Salesforce.com được thành lập tháng 3/ 1999 bởi các nhà điều hành Marc Benioff , Parker Harris, Dave Moellenhoff, và Frank Dominguez như là một công ty chuyên về phân phối và sản xuất phần mềm. Trong tháng 6/ 2004 , công ty đã đi phát hành cổ phiếu trên New York Stock Exchange.

Salesforce.com có trụ sở chính tại San Francisco, California, và các chi nhánh tại Dublin, Singapore và Tokyo. Ngoài ra, Saleforce còn có hệ thống văn phòng lớn khác nằm ở Toronto, New York, London, Sydney và California. Dịch vụ của Salesforce.com được dịch ra 16 ngôn ngữ khác nhau và hiện đang có 55.400 khách hàng cùng với hơn 1.500.000 thuê bao.

3. Orrick Herrington & Sutcliffe

Thu nhập trung bình hàng năm của nhân viên: $245,206

Orrick, Herrington & Sutcliffe là một công ty luật quốc tế thành lập tại San Francisco với thâm niên 147 năm hoạt động. Công ty này có hơn 1.100 luật sư trên toàn thế giới làm việc tại 21 chi nhánh.
Orrick, Herrington & Sutcliffe đặc biệt nổi tiếng trong các lĩnh vực chứng khoán tranh chấp, tài chính công, thuế, năng lượng quy định, bất động sản, phá sản, bồi thường và các quyền lợi, tội phạm cổ cồn trắng, sở hữu trí tuệ và thương mại tranh chấp.

4. Bingham McCutchen

Thu nhập trung bình hàng năm của nhân viên: $233,800

Công ty luật có trụ sở tại Boston này đã mở rộng hoạt động gấp 3 lần trong vòng 5 năm trở lại đây thông qua một loạt vụ sáp nhập. Số lượng luật sư hiện đã lên tới 950 người. Phụ nữ chiếm 23% trong tổng số nhân viên, đây được xem là tỷ lệ cao nhất trong số các công ty luật hàng đầu ở Mỹ.
 
 
Công ty Bingham McCutchen dành cho các nhân viên của mình một chính sách nghỉ hưu rất rộng rãi với khoản đóng góp hàng năm là 7% thu nhập, khoảng 70.000 USD.

5. Devon Energy

Thu nhập trung bình hàng năm của nhân viên: $187,819

Devon Energy là tập đoàn dầu khí lớn nhất nước Mỹ có trụ sở tại thành phố Oklahoma, hoạt động của công ty tập trung chủ yếu ở Hoa Kỳ và Canada. Tuy nhiên, Devon cũng sản xuất dầu trong khu vực quốc tế như Trung Quốc, Brazil và Azerbaijan.
Devon Energy được xếp trong Fortune 500 Tổng công ty lớn nhất ở Mỹ, và cũng thường xuyên nằm trong danh sách 100 công ty tốt nhất để làm việc.

6. Alston & Bird


Thu nhập trung bình hàng năm của nhân viên: $185,938

Công ty luật Atlanta này xếp hạng 57 trên toàn quốc về doanh thu và hạng 42 trong số các công ty luật tốt nhất ở Mỹ. Lĩnh vực hoạt động của công ty này rất đa dạng, từ dịch vụ chăm sóc sức khỏe, truyền thông đến các dịch vụ tài chính và giao thông. Khách hàng của công ty bao gồm UPS, Verizon Wireless, Wachovia, BellSouth, Delta Airlines và Aflac.
Tiền thưởng bổ sung với phần lương chính cho nhân viên công ty là 10 đến 25%. Công ty cũng đề nghị mức thưởng dành cho các nhân viên không phải là luật sư khoảng 9% lương.

7. Perkins Coie

Thu nhập trung bình hàng năm của nhân viên: $183,376

Perkins Coie là một công ty luật quốc tế có trụ sở tại Seattle, Washington, từng được liệt kê trên Tạp chí Fortune "100 nơi tốt nhất để làm việc ở Mỹ" suốt tám năm qua. Lĩnh vực hoạt động chính của Perkins Coie là sở hữu trí tuệ, lao động việc làm và chính trị pháp luật. Công ty từng tư vấn hồ sơ cho Ủy ban Quốc gia Dân chủ , và nhiều khách hàng chính trị khác bao gồm gần như tất cả các thành viên Dân chủ Quốc hội Hoa Kỳ, cũng như nhiều chiến dịch vận động tranh cử tổng thống, bao gồm cả John Kerry và Barack Obama.
Khách hàng doanh nghiệp quốc tế của Perkins Coie là những tên tuổi nổi tiếng như Boeing, Microsoft, Amazon.com và Starbucks.

8. EOG Resources

Thu nhập trung bình hàng năm của nhân viên: $171,943

EOG Resources là tập đoàn dầu mỏ và khí đốt lớn của Mỹ với trụ sở chính tại Downtown Houston, Texas. EOG có nhiều mỏ dầu và khí đốt ở Hoa Kỳ, Canada, ngoài khơi Trinidad và Vương quốc Anh. EOG Resources, Inc được niêm yết trên Sở Giao dịch chứng khoán New York và được giao dịch theo biểu tượng  "EOG".
Mặc dù vào năm 2009, giá dầu thế giới có khuynh hướng sụt giảm nhưng hoạt động sản xuất kinh doanh của EOG vẫn được duy trì ổn định và tập đoàn này vẫn tiếp tục tuyển dụng thêm nhân sự nhưng không sa thải bất kỳ ai.

9. Arnold & Porter

Thu nhập trung bình hàng năm của nhân viên: $171,074

Xếp hạng 39 trong số các công ty luật của Mỹ, Arnold & Porter có hơn 600 luật sư. Công ty này nổi tiếng với các hoạt động liên quan đến an ninh chính phủ.
Nhân viên công ty được hưởng các chế độ đãi ngộ rất tốt như trung tâm chăm sóc sức khỏe con em nhân viên do chính công ty điều hành và một chính sách nghỉ hưu hậu hĩnh với 7,5% lương được cộng thêm vào tài khoản của nhân viên mỗi năm.

10. Brocade Communications Systems

Thu nhập trung bình hàng năm của nhân viên: $170,175

Brocade Communications Systems là tập đoàn chuyên sản xuất và kinh doanh các phần mềm hỗ trợ cho doanh nghiệp trên nhiều lĩnh vực. Brocade Communications Systems, Inc, có trụ sở tại tại Silicon Valley Hoa Kỳ, sử dụng Ansoft Designer và các sản phẩm liên quan trong việc phát triển công nghệ cho phép kết nối trung tâm dữ liệu với độ tin cậy và an toàn cao.
Với mức thu nhập trung bình $170,175, tập đoàn này đứng thứ 10 trên thế giới trong danh sách các công ty có mức lương hấp dẫn nhất và là tập đoàn duy nhất hoạt động trên lĩnh vực công nghệ thông tin.
Theo Hoài Thư (VTC, Fortune)

Chủ Nhật, 6 tháng 5, 2012

Thủ tục giải quyết tuyêt bố doanh nghiệp phá sản ở Hoa Kỳ

Xin mạn phép trình bày những thông tin dưới đây do Leonidas Ralph Mecham, Giám đốc Văn phòng Hành chính các Tòa án Hoa Kỳ đã đưa ra trong tài liệu “Hiểu biết về các Tòa án Liên bang” được xuất bản cách đây 10 năm và đang có hiệu lực ở Hoa Kỳ.

Thẩm quyền chung của tòa án liên bang Hoa Kỳ
Nhìn chung thì các Tòa án Liên bang giải quyết các vụ việc có liên quan đến chính phủ Hoa Kỳ, hiến pháp Hoa Kỳ hay các luật của liên bang, hoặc các vụ kiện giữa các tiểu bang hay giữa Hoa Kỳ với các chính phủ nước ngoài. Một vụ việc được xem là sự cố liên bang có thể được thụ lý ở tòa án liên bang, chẳng hạn như một cá nhân khiếu kiện về vấn đề tiền bạc liên quan đến an sinh xã hội trong một chương trình của chính phủ liên bang; hoặc chính phủ kiện ai đó đã vi phạm luật liên bang, hoặc do những hành động phản đối nào đó của một cơ quan thuộc liên bang.
Vụ việc cũng có thể được tòa án liên bang thụ lý dựa trên “tính đa dạng về quyền công dân” của các nguyên đơn, như giữa công dân của các tiểu bang khác nhau, hay giữa công dân Hoa Kỳ với công dân nước khác. Để bảo đảm sự công bằng cho nguyên đơn ở ngoài tiểu bang, hiến pháp Hoa Kỳ cho tòa án liên bang xem xét vụ việc đó. Giới hạn quan trọng đối với thẩm quyền xét xử vụ việc là chỉ khi nào thiệt hại tiềm năng hơn 75.000 đô- la thì tòa án liên bang mới thụ lý. Dưới mức đó hoặc không liên quan gì với tiền bạc thì sẽ do tòa án tiểu bang giải quyết. Mặc dù các tòa án liên bang có mặt ở khắp các tiểu bang, nhưng các tòa án tiểu bang lại có thẩm quyền với hầu hết các vụ việc khác, như vấn đề ly hôn, cấp dưỡng trẻ em, các vụ hình sự, tranh chấp hợp đồng, hòa giải và di sản thừa kế, bất động sản, vấn đề vị thành niên, vi phạm luật giao thông, gây thương tích cá nhân. Ngoài ra, một số tranh chấp pháp lý khác có thể được giải quyết ở các tòa án đặc biệt hay các cơ chế hành chính liên bang hoặc thuộc ngành tư pháp, thì do các cơ quan hành chính liên bang hoặc tiểu bang tiến hành.

Tuy nhiên đối với vấn đề phá sản, thì Quốc hội xác định đây thuộc về thẩm quyền riêng của các tòa án liên bang; có nghĩa là một vụ phá sản không thể được thụ lý bởi tòa án tiểu bang. Chúng ta thử tưởng tượng trong hoàn cảnh hàng triệu người thất nghiệp do hậu quả của cuộc khủng hoảng tài chính hiện nay, ở Hoa Kỳ hẳn phải có hàng chục ngàn doanh nghiệp lớn nhỏ phá sản hay giải thể, và sự bận rộn của các tòa án liên bang Hoa Kỳ sẽ biết dường nào. Nhưng cấu trúc hợp lý của hệ thống tòa án của Hoa Kỳ sẽ đảm bảo cho ngành tư pháp của họ hoạt động hữu hiệu. Thông qua thủ tục phá sản, các cá nhân hay doanh nghiệp không có khả năng chi trả cho chủ nợ có thể tìm ra cơ hội thanh lý tài sản của mình hay họ có thể tổ chức lại hoạt động tài chính và thực hiện kế hoạch trả hết các khoản nợ của mình.

Sơ lược cấu trúc của hệ thống Tòa án Liên bang Hoa Kỳ
Để thực hiện thẩm quyền xét xử của mình, hệ thống tòa án liên bang Hoa Kỳ đã được Quốc hội thiết lập thành hai cấp tòa án liên bang đặt dưới Tòa án Tối cao, gồm các tòa án sơ thẩm (xem xét hầu như tất cả vụ việc liên bang cả về dân sự lẫn hình sự) và các tòa án phúc thẩm. Hoa Kỳ có 94 hạt tư pháp (judicial district) thuộc liên bang, ít nhất mỗi tiểu bang là một hạt tư pháp và riêng một hạt cho Columbia và Puerto Rico. Mỗi hạt đều có một tòa phá sản, là một đơn vị thuộc tòa án sơ thẩm liên bang của hạt. Riêng ba vùng lãnh thổ Virgin Islands, Guam, và quần đảo Bắc Mariana có các tòa án của hạt để xem xét các vụ việc về liên bang, bao gồm phá sản.
94 hạt tư pháp được chia thành 12 vùng kinh lý (regional circuit), mỗi vùng có một tòa án phúc thẩm. Tòa án phúc thẩm xem xét các kháng cáo từ các tòa án của hạt trong vùng cũng như các kháng cáo từ các quyết định của các cơ quan hành chính liên bang. Ngoài ra, tòa án phúc thẩm của vùng còn có thẩm quyền xét xử phúc thẩm mang tính toàn quốc đối với các vụ việc đặc biệt liên quan luật sáng chế (patent laws) và các vụ việc đã được quyết định bởi Tòa Thương mại Quốc tế và Tòa Khiếu kiện liên bang (US Court of Federal Claims), cũng là hai loại tòa án sơ thẩm.

Thủ tục tố tụng đối với các vụ án phá sản
Mục đích cơ bản của Luật Phá sản Hoa Kỳ (LPSHK) là cho con nợ lương thiện một cơ hội làm lại từ đầu bằng cách làm nhẹ gánh nặng cho con nợ đối với hầu hết các khoản nợ, và giúp họ tuần tự trả cho các chủ nợ bằng tài sản có sẵn cho việc chi trả.
Thường thì một vụ án phá sản bắt đầu bằng việc con nợ nộp đơn ở tòa phá sản. Đơn do một cá nhân, một đôi vợ chồng, một công ty, hay một cơ quan nộp ở tòa. Đơn yêu cầu có sẵn ở văn phòng thư ký các tòa phá sản hay ở các cửa hiệu văn phòng phẩm. Có một loạt các phí nộp đơn cho vụ phá sản, tùy thuộc vào chương nào của luật phá sản mà đơn đề nghị. Phổ biến nhất là nộp đơn cá nhân (Chương 7, LPSHK) để xin thanh lý toàn bộ tài sản của con nợ, cũng như việc thanh toán hầu hết các khoản nợ, thì mức phí nộp đơn cho trường hợp này là 175 đô-la.
Tòa sẽ yêu cầu con nợ nộp bảng cân đối tài chính, liệt kê tài sản, thu nhập, chứng từ có giá, tên và địa chỉ  của tất cả chủ nợ với khoản nợ kèm theo. Làm thế này sẽ ngăn chặn việc xiết nợ, các chủ nợ không thể kiện cáo, đòi lương, hay ngay cả gọi điện thoại đòi tiền. Thư ký tòa án sẽ gởi thư báo cho các chủ nợ cho biết là con nợ đã nộp đơn ở tòa phá sản. Ở một số vụ phá sản con nợ được phép tổ chức lại sản xuất kinh doanh và lập kế hoạch trả nợ, trong khi một số vụ thì giải quyết việc thanh lý tài sản của con nợ. Có nhiều vụ phá sản mà bất động sản của con nợ không đủ trả cho các chủ nợ, mà chỉ đủ để thanh lý tài sản cho khách tiêu dùng cá nhân. Kết quả là ít xảy ra bất đồng hay tranh chấp, và con nợ thường được giúp thoát khỏi hầu hết các khoản nợ mà không gặp phải sự đối kháng. Điều này cũng đồng nghĩa rằng con nợ không còn uy tín cá nhân để trả nợ.
Tuy nhiên, trong các vụ án phá sản khác thì các tranh chấp về yêu cầu nổi lên ở tòa phá sản khi con nợ có tài sản, sử dụng tài sản đó thế nào, giá trị tài sản đó bao nhiêu để trả cho một khoản nợ, liệu con nợ có thoát khỏi một số khoản nợ nào không, hay phải trả bao nhiêu tiền cho luật sư, kế toán, kiểm toán, hoặc các nhà chuyên môn khác. Sẽ có nhiều cách khác nhau như điều tra khám phá, tiền tố tụng, dàn xếp hòa giải, và xét xử sơ thẩm như trong tố tụng dân sự để giải quyết vụ án phá sản.

Năm dạng vụ việc ở tòa phá sản
- Thanh lý tài sản (Điều 7, LPSHK): Một ban quản lý sẽ được chỉ định để trông coi tài sản của con nợ vì lợi ích của các chủ nợ. Tuy nhiên con nợ được phép giữ lại một số tài sản ngoại lệ có giới hạn theo luật, còn lại phần lớn được ban quản lý bán đi để phân cho các chủ nợ theo thủ tục mà luật phá sản quy định.
- Điều chỉnh nợ cá nhân (Điều 13, LPSHK): Con nợ được phép giữ lại tài sản của mình, nhưng phải trả lại cho chủ nợ làm nhiều lần từ các thu nhập tương lai của mình. Tòa yêu cầu con nợ trình duyệt kế hoạch về cách thức và thời gian thanh toán nợ. Một ban quản lý được chỉ định, và một phần thu nhập của con nợ được trả cho ban quản lý để trả cho chủ nợ.
- Tổ chức lại sản xuất kinh doanh (Điều 11, LPSHK): Cơ hội sản xuất kinh doanh được đưa ra để doanh nghiệp tổ chức lại nhằm giải quyết vấn đề tài chính. Con nợ được phép tiếp tục hoạt động dưới sự giám sát của tòa án.
- Điều chỉnh nợ của hộ nông dân (Điều 12, LPSHK): Tương tự như việc điều chỉnh nợ cá nhân, ngoại trừ một số đặc điểm chỉ có ở gia đình nông dân.
- Điều chỉnh nợ của vùng đô thị (Điều 9, LPSHK): Quy định cho đơn vị hành chính như thành phố, thị trấn, hay quận, cơ quan công quyền, hay thiết chế khác của tiểu bang.
Ở hầu hết các tòa phá sản, kháng cáo lại quyết định của thẩm phán có thể được trình lên tòa án hạt. Tuy nhiên, một số tòa án phúc thẩm đã lập Hội đồng phúc thẩm phá sản bao gồm 3 thẩm phán để xem xét kháng cáo. Như thế, bên thua thiệt có thể gởi kháng cáo lên tòa án phúc thẩm. Luật sư kháng cáo và Hội đồng thẩm phán sẽ tranh luận tập trung vào các nguyên tắc pháp lý trong tranh chấp, mỗi bên có khoảng 15 phút để trình bày quan điểm. Quyết định của tòa án phúc thẩm thường là phán quyết cuối cùng, trừ phi tòa gởi ngược vụ án về tòa án sơ thẩm để điều tra bổ sung, hay các bên yêu cầu Tòa án Tối cao Hoa Kỳ xem xét lại vụ án. Trong một số vụ án, quyết định của tòa án có thể được xem xét lại toàn bộ bởi một nhóm lớn các thẩm phán (thường là tất cả các thẩm phán của Tòa án phúc thẩm vùng).
Hầu hết các tòa án liên bang có hệ thống truy xuất thông tin tự động đặt ở ngay quầy công chúng ở tòa án. Các tòa phá sản và tòa phúc thẩm cũng có hệ thống thông tin điện thoại để giải đáp cho người gọi đến theo dõi tiến độ vụ án. Thư ký tòa án trả lời miễn phí mọi yêu cầu theo dõi tiến độ; riêng việc tìm kiếm và truy xuất thông tin tòa án, sao chép tài liệu thì có thu phí. Trang chủ của ngành tư pháp liên bang www.uscourt.gov có những kết nối đến các website từng tòa án, cũng như một danh mục dịch vụ truy cập điện tử giúp cho việc thông tin cập nhật.
Đối với Việt Nam, thẩm quyền giải quyết thủ tục tuyên bố doanh nghiệp Tòa án quận huyện, hoặc cấp thành phố-tỉnh nơi doanh nghiệp được cấp giấy phép đăng ký kinh doanh.Hoặc thẩm quyền thuộc tòa án cấp huyện nhưng tòa án cấp tỉnh thấy cần thiết lấy lên giải quyết, thông thường là những doanh nghiệp có ảnh hưởng lớn đến tình hình kinh tế, chính trị, xã hội. Còn những vấn đề liên quan đến thủ tục tuyên bố doanh nghiệp phá sản giữa qui định của pháp luật và thực tiễn diễn ra như thế nào tôi sẽ trình bày trong bài viết khác.