Thứ Hai, 13 tháng 8, 2012

Con Đường Đi Xuyên Khủng Hoảng

Trong lúc cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu và Việt Nam đang khiến vô số công ty lao đao, thậm chí sụp đổ( Thống kê, hai quí đầu năm, hơn 70% doanh nghiệp Việt Nam thua lỗ) thì vẫn có những doanh nghiệp không những đứng vững mà còn mạnh mẽ đi xuyên qua khủng hoảng. Nghe có vẻ khó tin nhưng với nhiều công ty, khủng hoảng lại là cơ hội để nắm bắt những cơ hội kinh doanh mới. Bí quyết của họ là gì?

Ứng xử với khủng hoảng
Trong bối cảnh mà chưa bao giờ mọi thứ trở nên khó khăn với người làm kinh doanh như hiện nay, doanh nghiệp sẽ phải làm gì? Liệu họ tiếp tục giữ vững con đường mình đã chọn là " thay đổi xã hội bằng chính công việc kinh doanh của mình", hay sẽ dành chấp nhận để thời cuộc dẫn dắt mình đi đến một cái đích vô định?
Mỗi tổ chức sẽ có lựa chọn riêng của mình, nhưng có thể mô tả tóm gọn bức tranh ứng xử với khủng hoảng của cộng đồng doanh nghiệp hiện nay như sau:
* Lựa chọn "chờ thời": với niềm tin đơn giản rằng "sau cơn mưa thì trời lại sáng", nhiều doanh nghiệp lựa chọn chờ đợi khủng hoảng đi qua. Thế nhưng, theo nhiều chuyên gia kinh tế, khủng hoảng kinh tế hiện nay sẽ không còn theo kiểu hình chữ V ( nền kinh tế lao dốc chạm đáy và dần dần phục hồi ) như thường thấy mà thay vào đó nó, mang dáng dấp hình chữ U (kinh tế chạm đáy và duy trì trạng thái này một thời gian rồi mới phục hồi). Vì vậy nếu chỉ "chờ thời" mà không làm gì, doanh nghiệp có khả năng bị kiệt sức.

* Lựa chọn "phản ứng": Doanh nghiệp tìm cách thích nghi với thời cuộc, chẳng hạn như cắt giảm chi phí và thu hẹp hoạt động. Kiểu lựa chọn này có thể giúp doanh nghiệp sống sót trong ngắn hạn nhưng không thực sự bền vững về lâu dài.

* Biến "nguy" thành "cơ": Những doanh nghiêp đã trở nên vĩ đại hơn trong khủng hoảng, bằng cách biết rõ mình muốn gì và luôn kiên định với những mục tiêu, sứ mệnh hướng đến "cái đúng, cái đẹp", những giá trị vượt lên trên mọi hoàn cảnh, mà công ty đã và đang theo đuổi.
Thành công của những công ty này không phải nhờ vào may mắn, mạo hiểm hay một sáng tạo, đột phá tình cờ như nhiều người nghĩ, mà thực ra, bí quyết rất đơn giản: Hãy đặt sứ mệnh cao cả lên trên các mục tiêu trước mắt như lợi nhuận/tăng trưởng và luôn luôn kiên định với con đướng đã chọn. Bằng cách đó, họ gặt hái được sự thành công và phát triển bền vững hơn.

Lựa chọn để trở nên vĩ đại hơn 
Có thể thấy những điểm chung trong lựa chọn của những doanh nghiệp là:
"Trường đồ tri mã lực": Khi đã thống nhất được sứ mệnh, tầm nhìn và các mục tiêu dài hạn, những công ty này chú trọng tăng trưởng ổn định chứ không  để bị cám dỗ bởi những thuận lợi, hào nhoáng nhất thời mà để qui mô công ty vượt quá khả năng kiểm soát.
"Quý hồ tinh bất quý hồ đa": Không vượt trội về tính sáng tạo, đột phá nhưng những quyết định đổi mới của họ thường mang lại hiệu quả cao hơn bởi trước bất kỳ đợt "đánh tổng lực nào" họ luôn thử nghiệm bằng những dự án nhỏ: chi phí thấp, rủi ro thất và không khiến công ty phải mất tập trung. Nói nôm na rằng, họ bắn ra nhiều phát đạn  để kiểm chứng trước. Khi đã xác định được mục tiêu, họ sẽ tập trung nguồn lực bắn một cú "đại bác" để chinh phục.
"Tích cốc phòng cơ": Các công ty này đều hiểu rằng, tiền mặt chính là "ôxy" cho họ trong giai đoạn khủng hoảng, nên họ không bao giờ đầu tư dàn trải mà chú trọng xây dựng một nguồn lực dự trữ tiền mặt dồi dào. Bên cạnh đó, họ luôn chủ động tiên liệu trước những hoàn cảnh xấu nhất, rủi ro có thể gặp phải và chuẩn bị trước các kế hoạch ứng phó. Chẳng hạn như Southwest Airlines, hơn 40 năm qua kể từ khi thành lập, công ty này vẫn trung thành với một tôn chỉ: "Chất lượng phục vụ tốt nhất thể hiện qua cung cách nồng nhiệt, thân thiện, niềm tự hào của mỗi nhân viên về công ty và về việc được phục vụ khách hàng. Và để đạt được sứ mệnh này, công ty xem nhân viên là sức mạnh lớn nhất và lợi thế cạnh tranh bền vững nhất về dài hạn". Tôn chỉ hoạt động của Southwest hoàn toàn không mới, nhưng hầu như không công ty vận tải hàng không nào tại Mỹ có thể thực hiện điều này một cách nhất quán, liên tục và đầy quyết tâm như công ty này suốt hơn 40 năm qua. Rõ ràng thành công không đến từ các tôn chỉ hay ho, mà là từ sự trung thành và bền bỉ thực hiện đến cùng các tôn chỉ đó.
Jim Collins, một trong những nhà nghiên cứu quản trị có ảnh hưởng nhất thế giới và cũng là của hai đầu sách nổi tiếng là "Từ tốt đến vĩ đại" và "Xây dựng để trường tồn", từng nhận xét: "Sự vĩ đại hoàn toàn không phải là một biến số của thời cuộc bởi nó chính là hệ quả của chuỗi các lựa chọn sáng suốt và tinh thần kiên định, bền bỉ đến cùng với sự lựa chọn đó."

Những điều được nêu trên đây chỉ là cốt lõi  nên nhất thiết phải cộng thêm những yếu tố khác từ chính bản thân bạn, như vốn sống, sự trải nghiệm bạn tích lũy được từ thực tế để cho bạn những phán đoán, những quyết định sáng suốt trước sự biến hóa muôn hình vạn trạng của vấn đề.
Cũng như loài cá chép, muốn hóa rồng thì phải vượt vũ môn, bơi ngược dòng thác. Những công ty trở nên vĩ đại trong khủng hoảng không chờ đợi "thời thế tạo anh hùng", ngược lại chính họ tạo nên "thời thế" bằng chính khả năng nhìn xa trông rộng, sự bền bỉ và những lựa chọn kiên định của mình. Dẫu biết đây là những lựa chọn không hề dễ dàng nhưng là một hành trình vinh quang và xứng đáng để bạn và tôi theo đuổi.

Thứ Sáu, 3 tháng 8, 2012

Pháp Luật Trọng Tài Của Nước Cộng Hòa Pháp Và Quốc Tế

Tôi xin giới thiệu tổng quát về pháp luật của Pháp về trọng tài quốc tế, bắt đầu bằng hai nhận xét chính. Tôi sử dụng cụm từ “pháp luật của Pháp về trọng tài quốc tế” do Pháp không có Luật Trọng tài (điều này khác với nhiều nước từ 15 năm trở lại đây đã thông qua Luật Trọng tài). Ở Pháp, trọng tài được coi là lĩnh vực của tố tụng dân sự, được điều chỉnh bởi nghị định, không phải bởi luật. Vậy nên một nghị định cơ bản được ban hành vào năm 1981 (cho đến nay chưa hề bị sửa đổi). Điều này dẫn tới nhận xét thứ hai của tôi là: trong pháp luật của Pháp, hầu hết các quy định, thậm chí các quy định cơ bản nhất về trọng tài, đều bắt nguồn từ thực tiễn xét xử. Tòa án đã đưa ra hầu hết các quy định quan trọng về trọng tài, đặc biệt về trọng tài quốc tế.
Trong pháp luật của Pháp, có 3 nguyên tắc lớn mang tính chủ đạo điều chỉnh lĩnh vực trọng tài quốc tế. Nguyên tắc thứ nhất là tính độc lập và tính có hiệu lực của điều khoản trọng tài quốc tế. Nguyên tắc thứ hai là đảm bảo phiên họp giải quyết tranh chấp bằng trọng tài được tiến hành công bằng và sự can thiệp của Tòa án phải rất hạn chế. Nguyên tắc thứ ba là quy chế pháp lý đặc biệt của phán quyết trọng tài quốc tế phải được chấp nhận. Trong đó, nguyên tắc thứ nhất mang tính truyền thống, hai nguyên tắc còn lại mới mẻ hơn trong luật so sánh.
Về nguyên tắc thứ nhất (tính độc lập và tính có hiệu lực của điều khoản trọng tài quốc tế), nguyên tắc này ngày nay đã được hầu hết các nước trên thế giới thừa nhận. Dự Luật của Việt Nam dĩ nhiên là giữ lại nguyên tắc này. Ở Pháp, nguyên tắc này được thiết lập từ một quyết định của Tòa Phá án (Tòa án Tư pháp tối cao) năm 1963. Tại quyết định này, Tòa Phá án tuyên bố nguyên tắc theo đó điều khoản trọng tài quốc tế có tính độc lập so với hợp đồng chính. Từ nguyên tắc đó, vào năm 1999, Tòa Phá án đã suy ra nguyên tắc về tính hiệu lực điều khoản trọng tài, theo đó điều khoản hợp đồng có một chế độ pháp lý riêng, đặc thù và được suy đoán trước là có hiệu lực. Giải pháp táo bạo này đã bị chỉ trích rất nhiều do có những ý kiến cho rằng thỏa thuận hợp đồng không thể tồn tại mà không có luật điều chỉnh. Hiệu lực của hợp đồng luôn phải phù hợp với quy định của một đạo luật hoặc một văn bản quy phạm pháp luật khác như nghị định. Theo giáo sư Fouchard, đây không phải là trường hợp hợp đồng có xung đột pháp luật vì người ta không tìm được luật áp dụng đối với thỏa thuận này. Theo tôi, luật áp dụng đối với điều khoản trọng tài đơn giản chỉ là thỏa thuận giữa các bên – kể từ khi các bên đã quyết định về thỏa thuận trọng tài, quyết định này có hiệu lực bắt buộc và trở thành luật của các bên.

Nguyên tắc tính độc lập và tính có hiệu lực của điều khoản trọng tài quốc tế có 3 tác dụng chính và cũng có một vài hệ quả cơ bản. Ba tác dụng chính là: tác dụng thứ nhất – tính miễn dịch của điều khoản; thứ hai – tác dụng giải phóng điều khoản khỏi bất cứ pháp luật quốc gia nào; thứ ba – tác dụng huy động hoặc tác dụng thu hút của điều khoản, cho phép mở rộng điều khoản này đối với các bên liên quan đến hợp đồng.
Trong các tác dụng trên, tác dụng thứ nhất được Dự Luật của Việt Nam giữ lại. Tính độc lập của điều khoản trọng tài nghĩa là điều khoản trọng tài có chế độ pháp lý riêng, độc lập với hợp đồng chính; hệ quả là điều khoản này không bị ảnh hưởng khi hợp đồng chính bị vô hiệu hoặc không được áp dụng. Tác dụng thứ hai – tác dụng giải phóng, thường được thể hiện nhiều hơn trong luật của Pháp nhưng ít được giữ lại trong luật so sánh, nghĩa là điều khoản trọng tài tách rời khỏi mọi hệ thống pháp luật mang tính nhà nước. Chính theo nghĩa này mà giáo sư Fouchard đã nói rằng đó là một hợp đồng không có xung đột pháp luật bởi vì người ta sẽ không tìm kiếm luật áp dụng cho hợp đồng đặc biệt này. Đây là nguyên tắc đặc biệt mà Tòa án Pháp đã đưa ra bởi lẽ thông thường, tư pháp quốc tế gắn với luật của quốc gia. Điều đó không đúng đối với điều khoản trọng tài, nguyên nhân đơn giản là do người ta muốn tránh các tranh chấp hết sức phức tạp về luật áp dụng đối với điều khoản trọng tài. Mặt khác, phải nói rằng với 25 năm kinh nghiệm của bản thân, tôi chưa từng gặp một điều khoản trọng tài nào mà các bên nói là được điều chỉnh bởi luật này hay luật kia, chưa từng có khái niệm về luật áp dụng đối với ­­­­thỏa thuận trọng tài. Không có lý do để nghĩ rằng luật áp dụng đối với hợp đồng chính nhất thiết phải áp dụng cho điều khoản trọng tài, do điều khoản trọng tài là độc lập, là một hợp đồng thủ tục được nhập vào trong một hợp đồng nội dung. Điều này cho phép Trọng tài và Tòa án xác định tính có hiệu lực của điều khoản trọng tài trong khi không tham chiếu vào luật pháp của quốc gia nào mà duy nhất dựa trên bằng chứng và ý chí của các bên ký kết hợp đồng.
Về tác dụng thứ ba (hoàn toàn đặc biệt trong luật pháp của Pháp) – tác dụng huy động hoặc thu hút, nghĩa là điều khoản trọng tài có quyền áp dụng đối với mọi hợp đồng khi các hợp đồng này được lập để thực hiện duy nhất một hoạt động kinh tế, kể cả khi trong số các hợp đồng đó, có hợp đồng không có điều khoản trọng tài; mặt khác, điều khoản trọng tài cũng được áp dụng đối với mọi bên đã tham gia vào hợp đồng chứa đựng điều khoản trọng tài và cả những bên không ký kết điều khoản đó, với điều kiện là các bên đó phải được biết trước về điều khoản trọng tài. Trong các hợp đồng quốc tế, đặc biệt là trong khuôn khổ các hoạt động đầu tư, thường có nhiều bên có liên quan, ví dụ nhiều doanh nghiệp châu Âu hoặc châu Mỹ cùng tham gia xây dựng một con đường ở Việt Nam. Sẽ có một hợp đồng chính, quy định về việc xây dựng con đường, được lập và ký kết bởi được một vài doanh nghiệp, các doanh nghiêp này đề nghị các doanh nghiệp khác tham gia thực hiện hợp đồng, các doanh nghiệp này có thể sẽ không ký hợp đồng chính nhưng đã phải biết về điều khoản trọng tài và đã ngầm chấp nhận điều khoản trọng tài. Xuất phát từ đó, thẩm phán Pháp quyết định rằng điều khoản trọng tài áp dụng cho tất cả các bên liên quan. Điều này là một một thuận lợi rõ rệt bởi lẽ mọi tranh chấp liên quan đến cùng hoạt động kinh tế được tập trung giải quyết bởi một trọng tài viên, tại cùng một địa điểm, tránh được nguy cơ vụ việc được các bên khác nhau khởi kiện tại các địa điểm khác nhau như Hà Nội, Los Angeles, Singapore hay nơi khác. Tác dụng của điều khoản trọng tài cũng được mở rộng theo hướng là điều khoản trọng tài được chuyển giao cùng với hợp đồng chính. Tòa án Pháp cho rằng điều khoản trọng tài nhất thiết phải được chuyển giao cùng với hợp đồng; điều này không mâu thuẫn với tính độc lập của điều khoản trọng tài, do tính độc lập của điều khoản chỉ có nghĩa là điều khoản trọng tài có chế độ pháp lý đặc biệt, nhưng điều khoản này vẫn là một phần không thể tách rời của hợp đồng chính, là một bộ phận phụ của hợp đồng chính về mặt pháp lý, do vậy, điều khoản này sẽ được chuyển cho tất cả những người thế quyền của các bên ký kết hợp đồng ban đầu. Do vậy, bằng tác dụng thu hút này, chúng ta có thể tập trung mọi tranh chấp liên quan đến một hoạt động kinh tế cho một Hội đồng Trọng tài giải quyết; đây rõ ràng là một giải pháp hết sức thuận lợi nhằm tăng cường hiệu quả của thỏa thuận trọng tài. Mặt khác, toàn bộ pháp luật của Pháp về trọng tài có tác dụng và có mục đích đảm bảo tính hiệu quả của thỏa thuận trọng tài.
Về các hệ quả quan trọng của tính độc lập của thỏa thuận trọng tài, hệ quả quan trọng thứ nhất là nguyên tắc “thẩm quyền về thẩm quyền”, được thừa nhận trong Dự Luật của Việt Nam. Đây là một nguyên tắc cơ bản về trọng tài theo đó, Trọng tài có thẩm quyền xem xét, quyết định về thẩm quyền của chính mình. Xuất phát từ nguyên tắc này, Trọng tài có thẩm quyền tuyên bố mình có thẩm quyền giải quyết tranh chấp bởi lẽ điều khoản trọng tài là độc lập và có hiệu lực. Đây là một nguyên tắc chung, không riêng gì pháp luật Việt Nam quy định như vậy. Tại Pháp, Tòa án cũng rút ra hệ quả từ nguyên tắc này. Khi quyết định rằng Trọng tài có quyền ưu tiên tuyệt đối trong việc xem xét, quyết định về thẩm quyền của chính mình, Tòa án phải từ chối thụ lý vụ kiện. Các bạn sẽ thấy rằng sau đó, có vẫn còn khả năng khởi kiện ra Tòa án, nhưng không phải ở giai đoạn này – đây là tác dụng phủ định của nguyên tắc “thẩm quyền về thầm quyền”, khi Tòa án loại bỏ thẩm quyền của Trọng tài. Điều này chỉ có thể thực hiện trong những trường hợp hết sức ngoại lệ, khi Tòa án thấy rằng điều khoản trọng tài rõ ràng vô hiệu hoặc rõ ràng không thể áp dụng. Ví dụ, trong luật Pháp (có lẽ luật Việt Nam cũng quy định tương tự), điều khoản trọng tài về ly hôn. Tòa án sẽ quyết định thụ lý vụ việc vì đây không thuộc thẩm quyền giải quyết của trọng tài. Ví dụ thứ hai là trường hợp hai bên đã ký kết hai hợp đồng tách biệt đối với một dự án kinh tế, trong đó một hợp đồng quy định tranh chấp sẽ được giải quyết bằng trọng tài trong khi hợp đồng kia lại dự kiến khả năng lựa chọn Tòa án. Do sự mâu thuẫn này của các điều khoản thỏa thuận về cơ quan giải quyết tranh chấp, khi có bên khởi kiện căn cứ vào hợp đồng có điều khoản lựa chọn Tòa án, Tòa án đã quyết định rằng điều khoản lựa chọn trọng tài là không thể áp dụng. Trong trường hợp này, điều khoản trọng tài rõ ràng không được áp dụng do việc áp dụng bị hạn chế bởi một hợp đồng khác.
Một hệ quả khác là nguyên tắc liên quan đến khả năng đưa ra giải quyết trước trọng tài các tranh chấp liên quan đến các cơ quan, tổ chức công như Nhà nước hoặc các công ty quốc doanh. Nguyên tắc này đã được Tòa Phá án đưa ra trong một quyết định năm 1966. Tòa Phá án khẳng định rằng không thể áp dụng nguyên tắc cấm giải quyết bằng trọng tài đối với các tranh chấp liên quan đến các cơ quan nhà nước. Theo Tòa án, khi Nhà nước tham gia vào hoạt động ngoại thương, Nhà nước xử sự với tư cách một chủ thể của quan hệ ngoại thương và nguyên tắc ngoại thương, do vậy có thể đưa vụ tranh chấp liên quan đến Nhà nước ra trọng tài giải quyết. Trên thực tế, nhiều quốc gia không muốn chấp nhận thẩm quyền trọng tài sau khi đã ký kết điều khoản trọng tài. Họ lập luận rằng Hiến pháp của các quốc gia đó cấm việc ký kết điều khoản trọng tài. Tuy nhiên, Tòa án Pháp quyết định rằng đó là một nguyên tắc quan trọng và luật trọng tài quốc tế buộc quốc gia đã ký kết điều khoản trọng tài phải tuân thủ điều khoản đó.
Về nguyên tắc chủ đạo thứ hai – đảm bảo phiên họp giải quyết tranh chấp bằng trọng tài được tiến hành công minh và sự can thiệp của Tòa án phải rất hạn chế. Thuật ngữ “phiên xét xử công minh” có xuất xứ từ Công ước Châu Âu và đây cũng là thuật ngữ hết sức phổ biến. Nguyên tắc này có nghĩa là phải đảm bảo một phiên tòa đúng đắn, tại đó các bên đều được đối xử bình đẳng, quyền bào chữa được tuân thủ, thẩm phán phải độc lập, vô tư, khách quan trong xét xử. Các tiêu chí này cũng được áp dụng cho việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài, lý do rất đơn giản là nếu công lý trọng tài là công lý tư thì đó vẫn là công lý và mọi công lý phải đáp ứng được các tiêu chí nêu trên.
Về sự can thiệp của Tòa án, hệ thống Trọng tài của Pháp hạn chế một cách rất chặt chẽ sự can thiệp của Tòa án, xuất phát từ một lý do khá đơn giản và hiển nhiên, đó là lựa chọn trọng tài là để tránh hoặc loại trừ sự can thiệp của Tòa án. Do vậy, Tòa án chỉ can thiệp trong 2 trường hợp. Trường hợp thứ nhất là hỗ trợ cho Trọng tài – khi Tòa án được đề nghị hỗ trợ trọng tài, chẳng hạn: chỉ định trọng tài viên, áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời. Phương thức can thiệp thứ hai của Tòa án là sự can thiệp với tư cách kiểm tra phán quyết trọng tài – can thiệp sau khi Trọng tài đã tiến hành giải quyết vụ tranh chấp, nếu Tòa án được yêu cầu kiểm tra tính hợp thức của phán quyết Trọng tài (tuy nhiên thẩm phán không có quyền sửa đổi phán quyết về mặt nội dung; điều này thuộc thẩm quyền của Trọng tài), trong trường hợp có yêu cầu hủy phán quyết do không tuân thủ các quy định pháp luật hình thức. Tôi cho rằng pháp luật Việt Nam cũng quy định như vậy. Tòa án sẽ xem xét thỏa thuận trọng tài có hiệu lực hay không, Hội đồng trọng tài có được thành lập theo đúng trình tự, thủ tục quy định hay không, Trọng tài viên có độc lập hay không, quyền bào chữa có được tuân thủ không, trật tự công quốc tế có bị vi phạm không, v.v… Đây là sự kiểm tra rất hạn chế vì toàn bộ thẩm quyền còn lại thuộc Trọng tài. Tòa án Pháp rất nghiêm khắc trong việc kiểm tra, giám sát tuân thủ nguyên tắc này – việc khởi kiện yêu cầu Tòa án xem xét nội dung của phán quyết trọng tài không thể được chấp nhận.
Nguyên tắc chủ đạo cuối cùng là thiết lập chế độ pháp lý đặc biệt cho phán quyết trọng tài quốc tế. Nguyên tắc này đã được áp dụng trong một vụ việc đặc biệt; trong vụ việc này, phán quyết được đưa ra ở nước ngoài và bị hủy ở nước gốc của phán quyết đó. Đó là vụ việc rất nổi tiếng I-lờ Mác-tơn năm 1994. Phán quyết được đưa ra tại Thụy Sĩ, rồi bị hủy ở Thụy Sĩ, và một trong các bên tranh chấp đã yêu cầu thi hành phán quyết ở Pháp. Tòa án Pháp đã chấp nhận thi hành phán quyết này ở Pháp với lý do đơn giản là phán quyết đã bị hủy ở nước ngoài không phải là căn cứ để hủy phán quyết đó ở Pháp. Vụ việc này đã gây ra nhiều tranh cãi, thậm chí đến nay vẫn tục được nói đến. Một vụ việc khác cũng diễn ra trong bối cảnh tương tự vào năm 2007. Một phán quyết được đưa ra ở Luân Đôn và bị huỷ sau đó ở Luân Đôn: một bên khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy phán quyết trọng tài do về nhầm lẫn về luật, Tòa án có thẩm quyền của Luân Đôn tiến hành xét xử lại và tuyên bố rằng có sự nhầm lẫn về luật và hủy phán quyết trọng tài. Cùng lúc đó, một bên yêu cầu thi hành phán quyết tại Pháp và Tòa án Pháp cũng đã chấp nhận cho thi hành phán quyết với cùng lý do như với vụ việc trước, bởi vì luật pháp của Pháp, trái với Công ước New York, không thừa nhận việc phán quyết trọng tài đã bị hủy ở nước ngoài như là một trường hợp phải từ chối thi hành phán quyết tại Pháp. Quyết định này của Tòa án Pháp cũng gây ra rất nhiều tranh cãi, chỉ trích. Rõ ràng là vấn đề này gắn liền với các căn cứ hủy phán quyết trọng tài ở nước ngoài bởi lẽ nếu phán quyết trọng tài bị hủy ở nước ngoài do vi phạm quyền bào chữa chẳng hạn thì đương nhiên phán quyết đó sẽ không được thi hành ở Pháp cũng như ở các nước khác.
Tuy vậy, không nên hiểu rằng quyết định này của thẩm phán Pháp một lần nữa tạo điều kiện cho Pháp trở thành nơi trú ẩn của tất cả các phán quyết trọng tài đã bị hủy trên toàn thế giới hay nói cách khác là các phán quyết tồi. Thực tế không phải như vậy, lý do đơn giản là phẩm phán Pháp cho rằng – tôi xin trích dẫn bản án 2007 – phán quyết trọng tài quốc tế tách rời khỏi mọi trật tự quốc gia và là một quyết định mang tính công lý quốc tế. Do đó, phán quyết trọng tài quốc tế không gắn với nước gốc bởi lẽ mối liên hệ giữa phán quyết với nước gốc rất yếu ớt; ngoài thủ tục yêu cầu hủy phán quyết theo quy định pháp luật của nước nơi ra phán quyết, phán quyết không có mối liên hệ nào khác với với hệ thống pháp luật của nước này. Do vậy, phán quyết trọng tài được coi là là một quyết định thực sự mang tính quốc tế. Quan điểm này của Tòa án Pháp có xu hướng thừa nhận một trật tự pháp lý quốc tế và gây ra không ít tranh cãi giữa những người làm công tác pháp luật, nhiều người tán thành và cũng không ít người phản đối.