Thứ Ba, 2 tháng 10, 2012

Chế Định Ủy Quyền Tham Dự Đại Hội Đồng Cổ Đông Trong Luật Doanh Nghiệp


Một trong những quyền cơ bản của cổ đông khi tham gia vào công ty cổ phần (CTCP) là quyền tham dự, phát biểu và biểu quyết trực tiếp tại cuộc họp Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ). Tuy nhiên, khi ĐHĐCĐ họp thì không phải mọi cổ đông đều có thể tham dự để thực hiện quyền của mình. Trong khi đó, để cuộc họp ĐHĐCĐ có giá trị về mặt pháp lý thì phải có đủ túc số dự họp lẫn biểu quyết1. Nhưng làm sao để có đủ túc số ấy khi cổ đông của công ty đại chúng ở nhiều vùng miền, và thậm chí ở nhiều quốc gia khác nhau?
Luật Doanh nghiệp 2005 đã đưa ra giải pháp cho cổ đông và cho CTCP bằng phương thức tham dự và biểu quyết tại cuộc họp ĐHĐCĐ thông qua người đại diện được ủy quyền2. Theo đó, “cổ đông là cá nhân, người đại diện theo ủy quyền của cổ đông là tổ chức trực tiếp hoặc ủy quyền bằng văn bản cho một người khác dự họp ĐHĐCĐ. Trường hợp cổ đông là tổ chức không có người đại diện theo ủy quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 96 của Luật này thì ủy quyền cho người khác dự họp ĐHĐCĐ3”.
Xác định người đại diện theo ủy quyền dự họp ĐHĐCĐ của cổ đông là tổ chức
Căn cứ theo các quy định của Luật Doanh nghiệp 2005 thì đối với cổ đông là tổ chức, cần phân biệt hai “dạng” đại diện theo ủy quyền. Theo Khoản 3 Điều 96 Luật Doanh nghiệp 2005, cổ đông là tổ chức có quyền cử một hoặc một số người đại diện theo ủy quyền thực hiện các quyền cổ đông của mình theo quy định của pháp luật, bao gồm cả quyền dự họp và biểu quyết tại cuộc họp ĐHĐCĐ; trường hợp có nhiều hơn một người đại diện theo ủy quyền được cử thì phải xác định cụ thể số cổ phần và số phiếu bầu của mỗi người đại diện. Việc cử, chấm dứt hoặc thay đổi người đại diện theo ủy quyền phải được thông báo bằng văn bản đến công ty trong thời hạn sớm nhất, bao gồm các nội dung từ điểm a đến điểm e của Khoản 3 Điều 96. Công ty phải gửi thông báo về việc cử, chấm dứt hoặc thay đổi người đại diện theo ủy quyền đến cơ quan đăng ký kinh doanh trong thời hạn năm ngày làm việc, kể từ ngày nhận được thông báo của cổ đông là tổ chức. Đây là một dạng ủy quyền thường xuyên, và thường được thấy trong các CTCP hóa từ doanh nghiệp nhà nước. Cũng không ít công ty đã nhầm lẫn khi ghi tên những người đại diện theo ủy quyền này vào danh sách cổ đông và xem họ mặc nhiên như là một cổ đông thực sự tương ứng với số cổ phần mà họ đại diện. Việc một tổ chức cử nhiều người đại diện phần vốn của mình tại một công ty nhằm hạn chế được tình trạng “lạm quyền” và hạn chế rủi ro nếu người được ủy quyền thực hiện các công việc không vì lợi ích của tổ chức ủy quyền. Tuy nhiên, nếu những người đại diện theo ủy quyền này không tham dự cuộc họp ĐHĐCĐ thì họ vẫn có thể ủy quyền cho người khác tham dự và biểu quyết tại cuộc họp ĐHĐCĐ, và việc ủy quyền cho “người khác” này có thể hiểu là một dạng ủy quyền “adhoc”, ủy quyền theo vụ việc.
Số lượng người được ủy quyền dự họp ĐHĐCĐ
Một vấn đề được đặt ra là một cổ đông được ủy quyền cho bao nhiêu người dự họp và biểu quyết tại ĐHĐCĐ? Khoản 1 Điều 101 Luật Doanh nghiệp quy định cổ đông là cá nhân, người đại diện theo ủy quyền của cổ đông là tổ chức ủy quyền cho “một người khác” dự họp ĐHĐCĐ. Như vậy, căn cứ theo quy định này thì cổ đông là cá nhân chỉ có thể ủy quyền tối đa cho một người tham dự họp ĐHĐCĐ, còn cổ đông là tổ chức có thể ủy quyền cho số người tham dự họp ĐHĐCĐ tối đa bằng với số người đại diện theo ủy quyền đã được thông báo với công ty theo Khoản 3 Điều 96. Số lượng này có thể là 3, là 5, 7 hoặc nhiều hơn. Tuy nhiên, Nghị định 102/2010/NĐ-CP ngày 01/10/2010 của Chính phủ hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Luật Doanh nghiệp có vẻ đã can thiệp sâu hơn vào quyền của cổ đông là tổ chức khi quy định: “Tổ chức là cổ đông CTCP có sở hữu ít nhất 10% tổng số cổ phần phổ thông có quyền ủy quyền tối đa ba người tham dự họp ĐHĐCĐ4”. Trước đây, Nghị định 139/2007/NĐ-CP ngày 05/9/2007 của Chính phủ hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Luật Doanh nghiệp cũng quy định tương tự nhưng có phần thông thoáng hơn khi cho Công ty tự quy định trong Điều lệ về quyền ủy quyền tham dự họp ĐHĐCĐ của cổ đông là tổ chức: “Nếu Điều lệ công ty không quy định khác thì tổ chức là cổ đông CTCP có sở hữu ít nhất 10% tổng số cổ phần phổ thông có quyền ủy quyền tối đa ba người tham dự họp ĐHĐCĐ5”. Quy định này của Nghị định 102 cũng không được rõ ràng khi không thấy quy định về số lượng người đại diện trong trường hợp cổ đông là tổ chức sở hữu ít hơn 10% tổng số cổ phần phổ thông của công ty. Điều lệ mẫu áp dụng cho các công ty niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán/Trung tâm Giao dịch Chứng khoán (ban hành kèm theo Quyết định số 15/2007/QĐ-BTC ngày 19/3/2007 của Bộ trưởng Bộ Tài chính – sau đây gọi là Điều lệ mẫu) khi quy định vấn đề này cũng không phân định rõ ràng giữa cổ đông là cá nhân và cá đông là tổ chức: “các cổ đông có quyền tham dự ĐHĐCĐ theo luật pháp có thể trực tiếp tham dự hoặc ủy quyền cho đại diện của mình tham dự. Trường hợp có nhiều hơn một người đại diện theo ủy quyền được cử thì phải xác định cụ thể số cổ phần và số phiếu bầu của mỗi người đại diện6”. Việc quy định cổ đông là cá nhân chỉ được ủy quyền cho một người tham dự có thể hiểu xuất phát từ quan điểm “một người không thể mâu thuẫn với chính mình khi thực hiện các giao dịch”, tuy nhiên, bản chất của CTCP là một công ty đối vốn, quyền biểu quyết của các cổ đông cũng dựa trên số lượng cổ phần mà họ sở hữu. Nếu cổ đông là tổ chức có thể hạn chế rủi ro của sự “lạm quyền” bằng cách ủy quyền cho nhiều người khác nhau, thì tại sao lại không cho cổ đông là cá nhân thực hiện quyền tương tự như vậy?
Hình thức ủy quyền
Luật Doanh nghiệp 2005 bắt buộc việc ủy quyền dự họp ĐHĐCĐ phải được lập thành văn bản theo mẫu của công ty và phải có chữ ký của cổ đông là cá nhân và người được ủy quyền (trường hợp người ủy quyền là cổ đông cá nhân), hoặc chữ ký của người đại diện theo ủy quyền của cổ đông là tổ chức, người đại diện theo pháp luật của cổ đông và người được ủy quyền dự họp (trường hợp người ủy quyền là người đại diện theo ủy quyền của cổ đông là tổ chức), hoặc chữ ký của người đại diện theo pháp luật của cổ đông và người được ủy quyền dự họp.
Nội dung ủy quyền
Một vấn đề quan trọng khi ủy quyền là nội dung ủy quyền. Theo đó, người được ủy quyền chỉ được hành động trong phạm vi được ủy quyền. Cổ đông có thể ủy quyền toàn bộ cho người đại diện được quyền quyết định tất cả những vấn đề cần sự biểu quyết của cổ đông, hoặc chỉ thị cho người đại diện phải biểu quyết theo ý mình dựa trên các tài liệu đã được nhận trước khi cuộc họp ĐHĐCĐ khai mạc. Tuy nhiên, văn bản ủy quyền lại phải làm theo mẫu của công ty, trong khi đó hầu như mẫu chung trong Giấy ủy quyền của tất cả các công ty chỉ ghi ngắn gọn nội dung ủy quyền như sau: “Thay mặt cho tôi tham dự và biểu quyết tại ĐHĐCĐ thường niên năm… của CTCP… với tư cách là đại diện cho tất cả số cổ phần mà tôi đang sở hữu”7. Như vậy, mặc nhiên các công ty đã bắt buộc cổ đông phải ủy quyền toàn bộ cho người đại diện và cho người đại diện được quyết định mà không có một chỉ thị cụ thể nào. Giả sử người ủy quyền muốn chỉ thị cho người được ủy quyền biểu quyết một cách cụ thể đối với các vấn đề bằng một văn bản khác thì có thể sẽ bị từ chối vì không được lập theo mẫu của CTCP. Nếu phát sinh tranh chấp giữa người ủy quyền và người được ủy quyền, thì các mẫu giấy ủy quyền này sẽ thể chứng minh người được ủy quyền đã hành động đúng hay không đúng như ý chí của người ủy quyền, nhất là quy định pháp luật Việt Nam hiện nay không bắt buộc người được ủy quyền phải công khai nội dung được ủy quyền biểu quyết, trừ trường hợp tổ chức lưu ký được cổ đông của các công ty niêm yết ủy quyền làm đại diện8.
Người nhận ủy quyền và vấn đề ủy quyền đương nhiên
Một vấn đề nữa cũng được đặt ra là người được ủy quyền có thể là tổ chức hay không? Luật Doanh nghiệp 2005 và Điều lệ mẫu chỉ nói là “người khác” mà không quy định rõ là cá nhân hay tổ chức. Nhưng dựa vào yêu cầu về chữ ký của người ủy quyền và người được ủy quyền trên văn bản ủy quyền, có thể hiểu được rằng người được ủy quyền dự họp ĐHĐCĐ chỉ có thể là cá nhân. Tuy nhiên, Quy chế quản trị công ty áp dụng cho các công ty niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán/Trung tâm Giao dịch Chứng khoán (ban hành kèm theo Quyết định số 12/2007/QĐ-BTC ngày 13/3/2007 của Bộ trưởng Bộ Tài chính – sau đây gọi là Quy chế quản trị công ty niêm yết) đã đi xa hơn một bước khi quy định: “Cổ đông có thể ủy quyền cho Hội đồng quản trị hoặc các tổ chức lưu ký làm đại diện cho mình tại ĐHĐCĐ9”. Theo quy định này thì cổ đông có thể ủy quyền cho một tổ chức đại diện cho mình tham dự và biểu quyết tại cuộc họp ĐHĐCĐ. Trên thực tế cũng có nhiều ý kiến ủng hộ việc ủy quyền cho Trung tâm lưu ký chứng khoán (TTLKCK) thực hiện các quyền của cổ đông tại cuộc họp ĐHĐCĐ10. Nhưng nếu TTLKCK đảm nhận vai trò “được ủy quyền” thì phải xem lại một số vấn đề về mặt lý thuyết như: bên nhận ủy quyền là pháp nhân, trách nhiệm của pháp nhân khi nhận ủy quyền, trách nhiệm của cá nhân trong pháp nhân khi thực hiện hành vi được ủy quyền của pháp nhân, tính độc lập của TTLKCK…
Gần đây, có nhiều ý kiến phản đối về ý tưởng “ủy quyền đương nhiên” cho Hội đồng quản trị khi tổ chức họp ĐHĐCĐ của CTCP, được đưa ra trong Dự thảo Nghị định sửa đổi Nghị định 139/2007/NĐ-CP. Trong Dự thảo lần 3, cơ quan soạn thảo đã đưa ra giải pháp đối với một số vấn đề liên quan đến ĐHĐCĐ:“Nếu Điều lệ công ty không quy định khác hoặc cổ đông có liên quan không có ý kiến khác bằng văn bản, các thành viên độc lập của Hội đồng quản trị đương nhiên là người đại diện theo ủy quyền của tất cả các cổ đông không tham dự họp Đại hội đồng cổ đông”11. Quy định này được đưa ra nhằm gỡ vướng cho các công ty đại chúng trong bối cảnh ngày càng có nhiều công ty đại chúng không tổ chức thành công cuộc họp ĐHĐCĐ trong lần đầu tiên. Tuy nhiên, các ý kiến phản đối cho rằng, quy định như vậy là vi phạm quyền của cổ đông và Bộ luật Dân sự về việc đại diện theo ủy quyền. Việc không tham dự cuộc họp khác hoàn toàn với việc tự nhiên có người đại diện theo ủy quyền. Cổ đông không tham dự họp đại hội cổ đông là từ bỏ quyền thể hiện ý chí của mình về mọi vấn đề cuộc họp nêu ra và phải chấp nhận kết quả quyết định của đại hội cổ đông. Còn có người đại diện không mong muốn thì có thể làm thay đổi kết quả đó. Ngoài ra, việc quy định như dự thảo Nghị định đưa ra còn mâu thuẫn với quy định tại khoản 2, Điều 101 Luật Doanh nghiệp: “Việc uỷ quyền cho người đại diện dự họp ĐHĐCĐ phải lập thành văn bản và phải có chữ ký của cổ đông ủy quyền và người được ủy quyền dự họp”. Quy định này sẽ cho ra một đáp số đồng dạng là, dù cho tỷ lệ tham dự cuộc họp trên thực tế chỉ là một vài phần trăm, nhưng kết quả vẫn luôn đạt con số sát 100%. Như vậy thì quan điểm không chịu hạ xuống 51% mà cứ giữ nguyên tỷ lệ 65% để bảo vệ quyền lợi của các cổ đông nhỏ sẽ trở thành ý tưởng hoàn toàn vô nghĩa12. Chính vì những ý kiến phản đối mạnh mẽ đó mà khi Nghị định 102 chính thức được ban hành thì nội dung về việc ủy quyền đương nhiên dự họp ĐHĐCĐ đã không được đưa vào. Tuy nhiên, các nhà làm luật vẫn không từ bỏ ý định của mình, khi trong Dự thảo Thông tư sửa đổi, bổ sung Quy chế quản trị công ty niêm yết và Điều lệ mẫu lấy ý kiến các thành viên thị trường vào đầu tháng 12/2010, ý tưởng về việc ủy quyền đương nhiên lại một lần nữa được đặt ra: “Trường hợp các công ty niêm yết đã tuân thủ đầy đủ trình tự, thủ tục về triệu tập ĐHĐCĐ theo quy định của pháp luật, cổ đông không tham dự nhưng không có ủy quyền hoặc không đăng ký tham dự và thực hiện bỏ phiếu từ xa thì Hội đồng quản trị có quyền mời tổ chức lưu ký chứng khoán đại diện cho các cổ đông tham dự và bỏ phiếu thay các cổ đông nêu trên”.13 Cũng như Dự thảo thay thế Nghị định 139, Dự thảo Thông tư lần này cũng không nhận được ý kiến đồng tình từ phía những người tiếp nhận vì nội dung trái quy định của Luật Doanh nghiệp và thiếu tính khả thi trong thực tế14.
Kiến nghị
So sánh với pháp luật của các nước có truyền thống luật công ty phát triển, rõ ràng Việt Nam vẫn còn thiếu rất nhiều quy định liên quan đến chế độ ủy quyền tham dự và biểu quyết tại cuộc họp ĐHĐCĐ. Ở Mỹ, hơn 98% số cổ phần được bỏ phiếu bằng việc ủy quyền trước cuộc họp15. Do đó, chế định ủy quyền được quy định rất cụ thể và chặt chẽ trong đạo luật của liên bang (Securities Exchange Act of 1934) nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các cổ đông trong việc thực thi quyền biểu quyết của mình. Ở Mỹ, cơ quan giám sát việc thu thập ủy quyền là Ủy ban Giao dịch Chứng khoán (U.S. Securities and Exchange Commission). Cơ quan này ra luật để kiểm soát cơ chế ủy quyền, bảo đảm cho người ủy quyền nhận được đầy đủ thông tin trước khi ký16.
Luật Doanh nghiệp Việt Nam nên quy định thêm những cơ chế để tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các cổ đông tham dự và biểu quyết thông qua người đại diện. Để làm được việc đó, có thể cho phép áp dụng cả phương thức giao dịch điện tử giữa cổ đông và người đại diện và giữa người đại diện với công ty. Bản thân người đại diện cũng cần được thực hiện việc tham dự và biểu quyết thông qua phương tiện điện tử. Đồng thời với các biện pháp này, luật cũng cần điều chỉnh cụ thể mối quan hệ giữa cổ đông và người đại diện (là điều hiện nay mà luật hoàn toàn bỏ ngỏ) để đảm bảo việc người đại diện lạm dụng ủy quyền đại diện vì lợi ích của chính mình thông qua việc quy định các nội dung bắt buộc cần phải có trong mẫu giấy ủy quyền dự họp và biểu quyết tại cuộc họp ĐHĐCĐ. Ngoài ra, luật cũng cần làm rõ số lượng người được nhận ủy quyền là bao nhiêu, chỉ là cá nhân hay có thể bao gồm tổ chức được nhận ủy quyền. Trong trường hợp luật cho phép ủy quyền cho tổ chức tham dự và biểu quyết tại cuộc họp ĐHĐCĐ thì còn phải xem xét đến trách nhiệm của tổ chức khi nhận ủy quyền, trách nhiệm của cá nhân trong tổ chức khi thực hiện hành vi được ủy quyền của pháp nhân.
Chú thích:
(1) Theo Khoản 1 Điều 102 Luật Doanh nghiệp 2005 thì cuộc họp ĐHĐCĐ lần thứ nhất chỉ được tiến hành khi có số cổ đông dự họp đại diện ít nhất bằng 65% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết và theo Khoản 3 Điều 104 thì quyết định của ĐHĐCĐ được thông qua tại cuộc họp khi được số cổ đông đại diện ít nhất 65% hoặc 75% tổng số phiếu biểu quyết của tất cả cổ đông dự họp chấp thuận.
(2) Khoản 1 Điều 79 Luật Doanh nghiệp 2005.
(3) Khoản 1 Điều 101 Luật Doanh nghiệp 2005.
(4) Điểm b Khoản 1 Điều 22 Nghị định 102/2010/NĐ-CP.
(5) Điểm b Điều 14 Nghị định 139/2007/NĐ-CP.
(6) Khoản 1 Điều 15 Điều lệ mẫu.
(7) Tham khảo mẫu giấy ủy quyền của một số công ty: Tổng Công ty Phân bón và Hóa chất dầu khí – CTCP (Đạm Phú Mỹ): http://dpm.vn/Portals/0/Mau_giay_uy_quyen_du_DH_2010.doc, Tập đoàn Bảo Việt: http://www.baoviet. com. vn/images_upload/assets/GiauyquyenthamduDHDCD2010.pdf; Tổng Công ty CP Bảo Minh: http://www.baominh.com .vn/data/news/2010/4/2925/GIAY%20UY%20QUYEN_GIAY%20DANG%20KY%20THAM%20DU%20-BMI-2010.doc .
(8) Khoản 3 Điều 6 Quy chế quản trị công ty niêm yết.
(9) Khoản 3 Điều 6 Quy chế quản trị công ty niêm yết.
(10) Trần Huỳnh Thanh Nghị (2010), Những vấn đề lý luận và thực tiễn về bảo vệ quyền lợi của cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần theo quy định tại Luật Doanh nghiệp 2005, Kỷ yếu Hội thảo “Bảo vệ cổ đông: Những vấn đề lý luận và thực tiễn trong pháp luật doanh nghiệp Việt Nam”, Khoa Luật Thương mại – Trường ĐH Luật TP. HCM.
(11) Khoản 1 Điều 28 Dự thảo (lần 3) Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định 139/2007/NĐ-CP.
(12) Xem các góp ý cho Dự thảo Nghị định tại http://vibonline.com.vn/vi-VN/Forum/Topic.aspx?ForumID=256.
(13) Xem dự thảo tại: http://www.ssc.gov.vn/portal/page/portal/ubck/1096905?ppage_id=1096905&persid=1095341 & folder id=&item_id=26253547&p_details=1.
(14) Tham khảo: Công văn số 972/2010/CV-SSIHO ngày 10/12/2010 của Công ty CP Chứng khoán Sài Gòn góp ý dự thảo sửa đổi Quy chế quản trị công ty niêm yết và sửa đổi Điều lệ mẫu áp dụng cho công ty niêm yết; Bài viết trên báo Đầu tư Chứng khoán điện tử: http://tinnhanhchungkhoan.vn/RC/N/CFIJEJ/vsd-bo-phieu-thay-co-dong:-co-trai-luat-doanh-nghiep.html; Bản tin cập nhật pháp luật tháng 12/2010 của Công ty luật Allens Arthur Robinson: http://www.vietnamlaws.com/vlu/dec_2010.pdf.
(15) R. Franklin Balotti, Jesse A. Finkelstein and Gregory P. Williams (2008), Meetings of Stockholders, Aspen Publishers, Inc. (download from http://westlaw.com), Chapter 7, section 7.1.
(16) Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Đình Cung (2009), Công ty: Vốn, quản lý và tranh chấp theo Luật Doanh nghiệp 2005, NXB Tri thức, tr. 333.

Thứ Hai, 1 tháng 10, 2012

Đạo Đức, Văn Hóa Nghề Luật Sư


Vấn đề đạo đức, văn hoá nghề nghiệp luật sư, thực trạng và hướng hoàn thiện, tôi đã chọn làm đề tài tốt nghiệp khóa nghiệp vụ luật sư (năm 2008), xin trình bày tóm tắt lại những vấn đề chủ yếu cần quan tâm của nội dung trên trong bài viết này để các bạn tham khảo.  
Nghề luật sư là một nghề xuất hiện lâu đời ( những người đầu tiên có thể tự nhận mình là luật sư có lẽ là những nhà hùng biện ở thành Athens cổ đại Hy Lạp vào thế kỷ thứ 5 trước Công nguyên) và phổ biến ở các nước phương tây, họ có vị trí, vai trò rất quan trọng trong xã hội. Trong xu thế hội nhập, nghề luật sư trong xã hội Việt Nam đang được quan tâm trong những năm gần đây ở nhiều góc độ, khía cạnh khác nhau.
Trước xu hướng toàn cầu hoá, luật sư Việt Nam phải làm gì để có vị thế ngang tầm với luật sư trong khu vực và quốc tế. Bên cạnh sự thông suốt luật pháp quốc gia, thông thạo luật quốc tế, nghĩa là kiến thức pháp luật trong nước và ngoài nước phải vững vàng thì một  yếu tố có ý nghĩa quyết định trong hoạt động nghề nghiệp đó là đạo đức, văn hoá nghề nghiệp của luật sư. Vấn đề này không chỉ có ý nghĩa quan trọng về hình ảnh người luật sư trong đôi mắt cộng đồng xã hội Việt Nam mà còn xây dựng hình ảnh luật sư Việt Nam trong đôi mắt cộng đồng quốc tế. 
1. Đạo đức nghề luật sư
         Nghề luật sư bên cạnh những nghề khác như nghề bác sĩ, nghề kinh doanh hay bất cứ nghề nào theo tôi đều phải có đạo đức của nghề đó. Tuy nhiên nghề luật sư là một trong những nghề đòi hỏi đạo đức nghề nghiệp cao phát xuất từ tính chất đặc thù của nghề nghiêp. Đó là nghề bổ trợ tư pháp, bảo vệ quyền và lơị ích hợp pháp của đương sự đang bị vướng mắc về pháp lý, phần lớn trong họ là những người không am hiểu pháp luật. Nếu họ gặp luật sư không có đạo đức thì có thể họ bị “xoay” bởi luật sư và đương nhiên thiệt hại lẽ ra không có sẽ thuộc về họ. Vậy đạo đức nghề luật sư là gì?
Theo từ điển tiếng việt đạo đức là những phẩm chất tốt đẹp của con người. 
Vậy có thể hiểu, đạo đức nghề luật sư là những phẩm chất tốt đẹp của người làm nghề luật sư.
Đạo đức nghề nghiệp là hình thái đặc biệt về nhận thức của con người về các phạm trù chính-tà, thiện-ác, tốt-xấu, phải-trái, cao thượng-hèn hạ trong ứng xử nghề nghiệp của mình. Nó là một trong những phương thức chủ yếu điều chỉnh hành vi của con người làm nghề đó trong xã hội vời sự trợ giúp của hệ thống các qui phạm hoặc các chuẩn mực của xã hội được thể hiện dưới hình thức thành văn hoặc không thành văn.
Khác với phạm trù đạo đức xã hội nói chung, đạo đức nghề nghiệp luật sư không hoàn toàn dựa trên cái thiện, cái ác, điều xấu, điều tốt mang nghĩa xã hội. Do nghề luât sư là nghề bổ trợ tư pháp nên đạo đức nghề luật sư hình thành và tồn tại trong lĩnh vực hoạt động tư pháp. Vì vậy, nó phải lấy pháp luật làm nền tảng bên cạnh đạo đức xã hội.

2.Văn hóa nghề nghiệp luật sư
        Văn hóa nghề nghiệp đó là cái đẹp được thể hiện qua cách ứng xử của người luật sư.
Cái đẹp này được thể hiện ra bên ngoài thông qua hành vi, cử chỉ, điệu bộ…của người luật sư với cá nhân, tập thể, cơ quan, tổ chức trong quá trình hoạt động nghề nghiệp của mình. Văn hóa nghề nghiệp luật sư xây dựng nên hình ảnh người luật sư, đội ngũ luật sư. Trong văn hóa ấy có cái chung, đăc trưng cho những người làm nghề luật sư. Tuy nhiên, trong cái chung ấy có cái riêng, đăc thù ở mỗi người luât sư. Do họ là những con người cụ thể, có tính cách, tâm lý, ngoại hình khác nhau điều đó khiến cho không luật sư nào hoàn toàn giống luật sư nào.
Ngoài ra văn hóa nghề nghiệp luật sư còn được hiểu là những quan điểm, nhận thức, cách nhìn, thái độ tôn trọng pháp luật nói chung của luật sư và ý thức tự giác tuân thủ các quy định của pháp luật trong quá trình hoạt động nghề nghiệp của mình.
Văn hóa nghề nghiệp ảnh hưởng nhất định đến quan niêm, lập trường , quan điểm, nhận thức xã hội của người luật sư trong hoạt động nghề nghiệp của mình.
Nếu như văn hóa được nhận diện qua cách ứng xử của từng con người, của cộng đồng xã hội trong các quan hệ thực tế thì văn hóa pháp lý nói chung, văn hóa nghề nghiệp luật sư nói riêng được thể hiện trong đời sống pháp lý thong qua quá trình thực hiện các hoạt động pháp luật bằng hành vi pháp lý của luật sư.
Văn hóa nghề ngiệp luật sư được thể hiện qua văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể. Chẳng hạn như ngôn ngữ của luật sư, đây là văn hóa phi vật thể, ngôn ngữ ấy được thể hiện dưới dang văn hóa nói hoặc văn hóa viết. Đây là “vũ khí” không thể thiếu của luật sư trong suốt hoạt động của mình.Cùng với ngôn ngữ là tác phong đây là sự tổng hợp cách thức thể hiện ra bên ngoài của luật sư như giọng nói, trang phục... Do đó luật sư phải sử dụng ngôn ngữ, thể hiện phong cách như thế nào sao cho bộc lộ được sức mạnh, vẻ đẹp nghề nghiệp của mình.

Văn hóa nghề nghiệp luật sư được hình thành qua từng thời kì và nó là một pham trù xã hội nên mang tính phổ biến nghĩa là nó có sự tác động đến những phạm trù khác trong xã hội. Do đó, ở mỗi thời kì nó có sự thay đổi nhât định và ở mỗi quốc gia, văn hóa nghề nghiệp luật sư có nét riêng biệt cho mình.
            Trong mối quan hệ giữa đạo đức và văn hóa nghề nghiệp luât sư, đây là mối quan hệ giữa nội dung và hình thức.Trong đó, đạo đức là nội dung cái bên trong, văn hóa là hình thức, cái biểu hiện ra bên ngoài của đạo đức. Không thể là người có văn hóa khi không có đạo đức, ngược lại không thể có đạo đức nào không được thể hiện ra bên ngoài qua cách ứng xử.

3.Sự cần thiết của đạo đức,văn hóa đối với nghề luật sư
        Khi bàn về đạo đức,văn hóa nghề nghiệp luật sư, có nhiều nhận thức và quan điểm khác nhau. Có người cho rằng: trong xã hội, nghề nào cũng đòi hỏi người làm nghề phải có cái tâm, trách nhiệm nghề của mình trước xã hội. Vậy có cần thiết  phải đăt đạo đức, văn hóa nghề nghiệp luật sư thành vấn đề riêng không? Cũng có người cho rằng: trong nền kinh tế thị trường, mỗi ngành nghề trong xã hội đều mang tính cạnh tranh, cạnh tranh để tồn tại và phát triển. Hoạt động nghề nghiệp luật sư cũng là một nghề như những ngành nghề khác, cũng chịu sự chi phối của qui luật thị trường, nói rõ hơn nó là nghề kinh doanh pháp lý. Nên việc đăt đạo đức, văn hóa nghề nghiệp luật sư thành vấn đề riêng bàn luận là không cần thiết.
            Chung qui lai, tuy có những khía cạnh khác nhau nhưng họ có chung một quan điểm không coi trọng đạo đức, văn hóa nghề nghiệp luật sư mà còn đánh đồng nghề luật sư như mọi nghề khác. 
            Vâng đã là con người , khi làm bất cứ nghề gì đều phải có đạo đức, trách nhiệm đối với nghề mình làm. Tùy thuôc vào tính chất đặc thù của mỗi nghề, đòi hỏi người làm nghề phải có những phẩm chất đạo đức, văn hóa nghề nghiệp khác nhau, không có cái đạo đức chung cho tất cả ngành nghề.
Chẳng hạn đối với nghề giáo viên, người thầy không chỉ dạy cái chữ để chống sự mù chữ mà mục tiêu cao cả của nghề dạy học là dạy cách làm người và trở thành con người có đủ những phẩm chất tốt đẹp, dìu dắt các thế hệ hướng đến cái chân, thiện, mỹ. Như vậy người thầy ấy không những phải có kiền thức chuyên môn vững chắc, mà trong họ phải có cái chân, thiện, mỹ. Cái chân, thiện, mỹ đó được biểu hiện ra bên ngoài qua cách ứng xử của họ trong xã hội, để cho học trò của họ trông thấy và noi theo. Đó là đạo đức, văn hóa của nghề giáo viên.
Nghề chữa bệnh, các thầy thuốc dùng hết khả năng của mình để cứu người đang bị bệnh, giành lấy sự sống cho bệnh nhân, góp phần bảo vệ sức khỏe con người, đem lại hạnh phúc cho cộng đồng. Với mục tiêu cao cả ấy, người thầy thuốc không bao giờ coi trọng đồng tiền hơn sự cứu người, tận tụy chăm sóc bệnh nhân. Chính vì thế đã xây dựng lên hình ảnh đẹp về người thầy thuốc trong xã hội và được tôn vinh là “Lương y như từ mẫu”.
Còn nghề sản xuất, kinh doanh thì sao, họ cung cấp những nhu cầu cho xã hội, tìm lợi nhuận trên khối óc, khả năng tính toán khéo léo của mình không thể có sự gian dối. Đó là đạo đức, văn hóa của những người kinh doanh chân chính.
Người làm nghề luật sư, trong hoạt động nghề nghiệp thể hiên ba tính chất cơ bản.

  Tính chất trợ giúp
Trong đời sống xã hội, do sự tác động của quy luật phát triển, dẫn đến trong xã hội có những người rơi vào vị thế thấp kém so với mặt bằng của xã hội. Chẳng hạn người nghèo, trẻ lang thang, người già yếu neo đơn. Những người ở vị thế thấp kém này khi bị đói xử bất công, trái pháp luật, trái đạo đức xã hội, hơn lúc nào hết họ cần được giúp đỡ, bên vực của người khác để lấy lại sự công bằng  cho họ trong xã hội. Trong đó có vai trò của người luật sư. Chẳng hạn đối với một người đang bị Viện kiểm sát truy cứu trách nhiệm hình sự, họ phải đối mặt với quyền lực nhà nước đại diện cho xã hội buộc tội họ. Không phải ai cũng đủ hiểu biết để tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Sự có mặt của luật sư trong trường hợp này là rất cần thiết. Trước hết tạo sự an tâm cho họ vì đã có chõ dựa tinh thần, tiếp đến tạo sư đối trọng cân bằng giữa họ với cơ quan quyền lực nhà nước. Chính vì thế, pháp luật qui đinh mọi người đều có quyền tự mình bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa, Bộ luật tố tụng hình sự qui định tại Điều 57 “ Người bi TCTNHS về tội theo khung hình phạt  cao nhất là tử hình được qui định trong Bộ luật hình sự hoặc là người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất, tinh thần thì buộc phải có người bào chữa.” Sự trợ giúp của luật sư lúc này hoàn toàn vô tư, không vụ lợi. Ngay từ thời cổ đại, những thế kỉ trước và sau công nguyên, những người dám đứng ra bên vực cho những người yếu thế trong xa hội được mệnh danh là “hiêp sỹ”. Ngày nay, con người được sống trong xã hội văn minh, tiến bộ, dân chủ nhưng không đồng nghĩa xã hội đã hết sự bất công, những con người yếu kém được đối xử bình đẳng, đươc hưởng những quyền , lợi ích như pháp luật đã quy định. Vì thế hoạt động trơ giúp của luật sư đối với những con người này không chỉ là bổn phận mà còn là thước đo lòng nhân ái, đạo đức của người luật sư.
  Tính chất hướng dẫn
         Do tính chất nghề nghiệp, đòi hỏi luật sư không chỉ thông hiểu pháp luật hiện hành, mà còn phải hiểu cả tinh thần, nội dung những qui định của pháp luật trong từng thời điểm của thời gian đã qua, ngoài ra còn hiểu sâu rộng cả phong tục, bản sắc dân tộc.
Mọi người hiểu và nghĩ về luật sư như vậy, cho nên mỗi khi bản thân, gia đình có điều gì vướng mắc không chỉ riêng vấn đề pháp lý đều tìm đến luật sư, nhờ luật sư tư vấn. 
Vì vậy hoạt động nghề luật sư luôn mang tính hướng dẫn.
Yêu cầu của hoạt động này là hướng dẫn cho đương sự hiểu đúng tinh thần, nội dung pháp luật để biết cách xử sự, tháo gỡ vướng mắc của họ phù hợp với pháp luật, đạo ý xã hội. Hoạt động hướng dẫn của luật sư còn là sự chỉ dẫn cái đúng, cái sai, việc gì được làm. Đối với người có tội, tuy chức năng của luật sư không phải lên án, buộc tội họ trước pháp luật, nhưng luật sư phải chỉ rõ tội lỗi họ đã làm, từ đó giúp cho họ hướng đến cái thiện. Nếu có căn cứ cho rằng họ không có tội hoăc họ bị qui kết sai tội hay  mức trừng phạt nặng so với hành vi vi phạm của họ thì luật sư phải sử dụng mọi biện pháp mà pháp luật cho phép nhằm chứng minh họ không có tội, kết sai tội và gỡ tội cho họ.
  Tính chất phản biện
         Đối với hoạt động nghề nghiệp luật sư, tính chất phản biện được hiểu là luật sư vận dụng  các lý lẽ của mình để phản bác lại những lý lẽ, ý kiến, quan điểm của người khác mà mình cho là không đúng.
Tính chất phản biện trong hoạt động nghề nghiệp luật sư thông thường thể hiện rõ nét nhất trong hoạt động tố tụng hình sự. Điều 36, khoản 3 Bộ luật TTHS qui định: “Người bào chữa có nghĩa vụ sử dụng mọi biện pháp do pháp luật để làm sáng tỏ những tình tiết xác định bị can, bị cáo vô tội, những tình tiết giảm nhẹ TNHS của bị can, bị cáo; giúp bị can, bị cáo về mặt pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ.”
Qui định này là cở pháp lý đảm bảo tính chất phản biện của luật sư trong quá trình hoạt động tố tụng hình sự. Tính chất phản biện là nghiã vụ pháp lý của luật sư phải thực hiện.
Tuy nhiên nhiều người đã lầm tưởng tính chất phản biện nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo với việc bao che tội phạm.
Tính chất phản biện khác ngụy biện ở chỗ, phản biện phải dựa trên sự thông hiểu tường tận vệ pháp lý và đạo lý. Phản biện phải lấy pháp luật và đạo đức xã hội làm chuẩn mực để xem xét mọi khía cạnh của sự việc nhằm xác định rõ đâu là đúng đâu là sai, thế nào là trái thế nào là phải từ đó đề xuất những biện pháp phù hợp loại bỏ cái sai, bảo vệ cái đúng, lẽ phải đó chính là bảo vệ công lý.
Còn ngụy biện đó là sự cố ý dùng những lý lẽ tưởng chừng đúng nhưng thực ra là sai, để rút ra những kết luận xuyên tạc không đúng sự thật. Hoạt động luật sư cần đảm bảo sao cho phản biện của mình có khoảng cách rõ nét với ngụy biện. Đó là đạo đức nền tảng của nghề luật sư.
Trong trường hợp, luật sư không phát hiện ra điều gì sai, không có cơ sở để phản biện thì vai trò của luật sư có cần thiết nữa không?
Khi người tiến hành tố, cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án hoàn toàn đúng pháp luật, nhận định, kết luận hoàn toàn chuẩn xác, thì không còn chỗ cho luật sư phản biện, vậy hoạt động của luật sư trong trường hợp này là người chứng kiến.
Vai trò là người chứng kiến của luật sư không phải là không quan trọng. Có sự hiện diện của luật sư là chỗ dựa tin cậy của bị can, bị cáo. Sự chứng kiến của luật sư trong khi lấy lời khai, khi đối chất, khi xét xử chắc chẳn rằng quyền và lợi ích hợp pháp mà pháp luật dành cho họ sẽ được đảm bảo. Dù họ là người phạm tội, họ phải chịu sự trừng phạt của pháp luật nhưng không ai có quyền tra tấn, đánh đập, hành hạ họ về thể chất cũng như tinh thần. Có người kém hiểu biết hoặc do quá sợ hãi, không có tội mà vẫn ký vào biên bản nhận tội dù biết tội đó đặc biệt nghiêm trọng, có thể bị áp dụng mức hình phạt cao nhất. Điển hình như vụ “Ai giết chị Là” ở Đông Triều, Quảng Ninh, vụ V-A- K ở Gia Lâm, Hà Nội, vụ Nguyễn Hữu Đạo ở Thanh Hóa. Điều đáng nói là các vụ án này đều không có sự tham gia có tính chất phản biện của luật sư.
Do vai trò, tác dụng của hoạt động nghề luật sư nên Điều 3 Luật luật sư năm 2007 đã nêu rõ “ hoạt động nghề nghiệp của luật sư nhằm góp phần bảo vệ công lý, phát triển kinh tế và xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.”. Nghị quyết 08 của Bộ chính trị viết “Các cơ quan Tư pháp có trách nhiệm tạo điều kiện để luật sư tham gia vào quá trình tố tụng, tham gia hỏi cung bị can, bị cáo, nghiên cứu hồ sơ vụ án, tranh luận dân chủ tại phiên tòa…”
               Ba tính chất hoạt động nghề nghiệp của luật sư, đã thể hiện sự dặc thù và sự khác biệt nghề luật sư với các ngành nghề khác. Người làm nghề kinh doanh, khi họ dự đoán được kết quả kinh doanh không có lợi nhuận hay thua lỗ thì không bao giờ họ làm. Người làm nghề luật sư, biết công việc mình làm là nguy hiểm nhưng vẫn phải thực hiện. Chẳng hạn bào chữa cho bị cáo phạm tội giết người, biết rõ gia đình nạn nhân có thể trả thù nhưng luật sư không được phép từ chối bào chữa khi được chỉ định.
Chính sự đặc thù nghề nghiệp, nên nghề luật sư được xã hội tôn vinh là nghề cao quý.
        Vậy làm thế nào để được coi là người luật sư có đạo đức, văn hóa trong nghế nghiệp?
        Ở nước ta, tiêu chuẩn để trở thành luật sư theo Luật luật sư năm 2007, tại Điều 10 qui định: “ Công dân Việt Nam, trung thành với tổ quốc, tuân thủ hiến pháp và pháp luật, có phẩm chất đạo đức tốt, có bằng cử nhân luật, đã được đào tạo nghề luật sư, đã qua thời gian thực tập hành nghề luật sư, có sức khỏe đảm bảo hành nghề luật sư thì có thể trở thành luật sư.”
Như vậy, luật sư ngoài việc hiểu biết sâu sắc về chuyên môn, nghiệp vụ, thành thạo trong các thao tác, nhuận nhuyễn trong việc vận dụng pháp luật, nhạy bén trong việc ứng xử các tình huống phức tạp còn phải có phẩm chất đạo đức tốt.
Trước hết, luật sư phải ý thức được trách nhiệm của mình là bảo vệ công lý, góp phần đem lại sự công bằng cho con người trong  xã hội. Nên một yêu cầu tiên quyết đối với luật sư, họ phải là công dân tốt, gương mẫu chấp hành hiến pháp, pháp luật, đăc biệt pháp luật liên quan mật thiết đối với nghề nghiệp của mình.


THỰC TRẠNG ĐẠO ĐỨC, VĂN HÓA NGHỀ LUẬT SƯ VÀ NGUYÊN NHÂN CỦA NÓ Ở VIỆT NAM
 1.Thực trạng
       Trong xu thế hội nhập và phát triển kinh tế, vai trò của nghề luật sư rất quan trọng. Tuy nhiên vị trí,vai trò của luật sư trong xã hội Việt Nam chưa được quan tâm đúng mức. Để đưa vị trí nghề luật sư ngang tầm với giá trị của nó cần phải nhận diện chính xác về thực trạng đạo đức, văn hóa nghề luật sư là điều hết sức cần thiết và thiết thực.

*  Thứ nhất, đạo đức, văn hóa pháp lý nói chung, đạo đức ,văn hóa các nghề tư pháp trong đó có nghề luật sư chưa được đề cập trong công tác đào tạo luật ở các trường đại học.
       Trong quá trình đào tạo luật, chủ yếu người học được trang bị kiến thức nhằm áp dụng luật để xử lý, giải quyết các tình huống cụ thể sao cho đúng qui định của pháp luật. Mảng kiến thức về đạo đức, văn hóa nghề nghiêp đối với từng chức danh tư pháp hầu như không được trang bị. Do đó có thể nói,  người học bị hổng về mảng kiến thức này. Chỉ khi bước vào từng nghề cụ thể, người hoc mới tự học hỏi và được rèn luyện thông qua việc tuân thủ qui chế ngành.
        Hiện nay trong quá trình đào tạo các chức danh tư pháp như thẩm phán, kiểm sát viên, luật sư, người học được trang bị trên lý thuyết về đạo đức nghề nghiệp nhưng người học tự tìm hiểu, rèn luyện là chính.
Trong quá trình đào tạo các chức danh tư pháp ở Pháp, người học được học môn đạo đức học. Các học viên được đi thực tập tại các nơi xét xử, văn phòng luật sư. Họ phải chạm chán trên thực tế những vấn đề không tương hợp, về lòng không trung thực, về thái độ dè dặt với những liên lụy về đạo đức nghề nghiệp khác nhau trong khi thực hiện nghĩa vụ của mình. Từ đó người học nhạy cảm với những vấn đề không được đề cập trong văn bản pháp luật.
Hiện nay Việt Nam có nhiều cơ sở đào tạo luật với nhiều hình thức đào tạo khác nhau, nhưng chưa cơ sở nào chú trọng đào tạo đạo đức, văn hóa pháp lý nói chung.
Nên người học pháp luật không phải ai cũng có đạo đức, văn hóa pháp luật được thể hiện trong nghề luật của mình.
*  Thứ hai, môi trường pháp chế chưa nghiêm
      Để đạo đức, văn hóa nghề nghiệp tồn tại và phát triển, trước hết phải có môi trường nuôi dưỡng nó. Cũng thế đối với đạo đức, văn hóa nghề luật sư phải có môi trường để nó hình thanh, tồn tại và phát triển. Điều này có nghĩa là, hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, trong xã hội pháp luật phải được tôn trọng tuyệt đối, cơ chế thực thi pháp luật , bảo vệ pháp luật chặt chẽ và hiệu quả.Tuy nhiên ở nước ta do nhiều nguyên nhân đem lại mà tính pháp chế trong hoạt động pháp lý chưa cao. Hiện tượng văn bản pháp lý chồng chéo nhau, văn bản luật không có giá trị bằng văn bản dưới luật, văn bản luật không được chấp hành nghiêm chỉnh, coi thường pháp luật không phải hiếm thấy ở nước ta. Tình hình này không những làm giảm hiệu lực của hệ thống pháp luật trong việc điều chỉnh xã hội mà còn gây mất niềm tin của người dân đối với pháp luật, người thực thi, áp dụng pháp luật. Nói rộng hơn, thực trạng văn hóa pháp lý nước ta đã mất đi một phần giá trị cần thiết của nó trong sư đem lại công bằng, khách quan, hờp pháp. Từ đó dẫn đến nhiều hệ lụy, chẳng hạn CQTHTT, NTHTT,luật sư là những người có cùng một mục đích là tìm ra sự thật khách quan của vụ việc, giải quyết vụ án đúng pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân. Nhưng thực tế không ít CQTHTT, NTHTH gây khó khăn cho luật sư trong viêc thực hiện nhiêm vụ của mình hay những quan điểm luật sư đưa ra không được quan tâm. Đôi khi tao ra mối quan hệ căng thẳng giữa luật sư với NTHTH. Ví dụ điển hình, sau khi kết thúc phiên tòa vụ án Vườn điều năm 2004 tỉnh Bình Thuận. Cuộc họp liện ngành Tòa án. Viện kiểm sát, Công an tỉnh Bình Thuận đã ra văn bản gửi  Đoàn luật sư tp Hà Nội, tp Hải Phòng và các cơ quan liên quan quản lý ba luật sư bào chữa cho những bị cáo trong vụ án với kiến nghi xử lý vì đã “đã xâm phạm uy tín của CQTHTT, xâm phạm danh dự, nhân phẩm của điều tra viên…”
Và không ít luật sư đã biến mình thành “thầy cò, thầy kiện”, xuyên tạc sự thật khách quan bằng lời lẽ ngụy biện cốt theo yêu cầu của khách hàng, trái ra phải, phải ra trái, có tội nói là không tội, không tội lại đe dọa là có hoặc khung hình phạt ở mức cao để hàng sợ mà chi tiền. Cơ chế pháp lý không tốt tạo điều kiện cho những người kém phẩm chẩt như thế trục lợi bất chính.
*  Thứ ba, công tác trợ giúp pháp lý mới được hình thành, hoạt động còn hạn chế
      Hiện nay riêng ở tp. Hồ Chí Minh  thành lập được bảy trung tâm trợ giúp pháp lý miễn phí. Trong điều kiện công tác tuyên truyền pháp luật có nhiều khó khăn thi các hoạt động tợ giúp pháp lý càng thiết thực, vì nó đáp ứng nhu cầu bức xúc của nhân dân. Hầu hết những người tư vấn là luật sư hay luật gia. Họ góp phần vào việc tuyên truyềng pháp luật, giải quyết các vướng mắc pháp lý cho dân,  từ đó phổ biến pháp luật cho người dân và cũng nâng cao văn hóa pháp lý  trong cộng đồng.Tuy nhiên hệ thống các tổ chức tư vấn pháp luật, trợ giúp pháp lý chưa đủ mạnh trong việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của dân, hoạt động này mới chỉ dừng lại ở tư vấn, soạn thảo đơn.
Thêm vào đó, hoạt động của các đoàn luật sư, hội luật gia, các trung tâm hõ trợ pháp lý chưa đồng bộ giữa các địa phương, những tổ chức náy tập trung ở các thành phố lớn, vùng nông thôn, miền núi có nơi không có mặc dù nơi đây người dân rất có nhu cầu.
2. Nguyên nhân
      Nguyên nhân dẫn đến thực trạng đạo đức, văn hóa nghề luật sư chưa cao có nhiều, song những nguyên nhân chủ yếu là do:
*   Hệ thống pháp luật trong thời kỳ đổi mới chưa hoàn thiện, ổn định về các chuẩn mực, cách thức tác động
Nói rộng ra, văn hóa pháp lý là nền tảng để ban hành quy phạm pháp luật(QPPL), hoàn thiện hệ thống pháp luật. Ngược lai, hệ thống pháp luật là một trong những tiêu chí đễ đánh giá văn hóa pháp lý, là cơ sở để củng cố, bảo vệ giá trị văn hóa pháp lý. Hiện nay chất lượng văn bản QPPL chưa cao, nhiều qui định pháp luật không rõ ràng, thiếu ổn định, công tác hệ thống hóa pháp luật không được tiến hành thường xuyên, gây khó khăn cho việc tiếp cận, nhận thức và thực hiện, áp dụng pháp luật. Dẫn đến sự hiểu và áp dụng không thống nhất giữa các CQNN.
Riêng vấn đề quy định đạo đức nghề nghiệp luật sư, một nghề đăc thù đòi hỏi phải trong sáng về đạo đức, văn hóa. Do đó phải tuân thủ những quy tắc đạo đức nghề nghiệp như thế mới nâng cao uy tín, vị thế của nghề mình trong xã hội. Luật sư chịu sự điều chỉnh bởi Luật luật sư và Bản quy tắc đạo đức nghề luật sư.Hiện nay, bản quy tắc này có nhiều bất cập nhưng chưa có điều kiến sửa. Do đó mõi Đoàn luật sư có quy định cho thành viên của mình, chưa có quy đình thống nhất áp dụng cho toàn luật sư Việt Nam.
Bên cạnh đó, một số người thực thi, áp dụng pháp luật coi thường pháp luật hoặc lợi dụng lỗ hổng pháp luật để nhũng nhiễu, hạch sách người dân nhằm kiếm lợi cho mình, bản thân người luật sư muốn làm được việc phải bước qua ngưỡng cửa đạo đức nghề nghiệp.
*  Luật sư chưa thật sự có ý thức xây dựng đạo đức, văn hóa nghề nghiệp
      Bên cạnh những luật sư thật sự có tâm huyết với nghề, đóng góp công sức xây dựng hình ảnh người luật sư chuẩn mực, khả kính và họ đã thực sự được xã hội tôn trọng thì không ít những luầt sư chỉ vì đồng tiền đã chà đạp lên tất cả giá trị đạo đức, văn hóa nghề nghiệp. Điển hình như luật sư Quốc Dũng thuộc Đoàn luật sư tp.Hồ Chí Minh. Luật sư là một nghề và có thu nhập từ nghề ấy. Tùy vào khả năng của mỗi luật sư mà họ có thu nhập cao hoặc thu nhập thấp từ nghề của mình. Tuy nhiên không vì lợi ích riêng của mình mà gây thiệt hại cho các đồng nghiệp. Điều này là trái với lẽ công bằng theo phạm trù đạo đức. Bởi lợi ích mình có được từ nghề luật sư thì chỉ mình hưởng, nhưng những lỗi do mình gây ra từ hoạt động nghề nghiệp thì không những mình mà còn cả đồng nghiệp cũng phải chịu.


HƯỚNG HOÀN THIỆN
         Từ việc nhận ra những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến thực trạng đạo đức, văn hóa nghề luật sư còn nhiều khiếm khuyết, tôi xin đưa ra những phương hướng khắc phục để xây dựng đạo đức,văn hóa luật sư ngày một hoàn thiện hơn.
       Về phương diện lý luận, mục  tiêu của đổi tượng xây dựng đạo đức,văn hóa nói chung là nhằm tạo ra hai yếu tố môi trường đạo đức, văn hóa và con người đạo đức, văn hóa. Hai nhân tố này tác động biện chứng với nhau. Trong đó yếu tố con người là quyết định. Như thế xây dựng đạo đức, văn hóa nghề nghiệp luật sư không thể không xây dựng con người luật sư có đạo đức văn hóa nghề nghiệp. Mặt khác vì môi trường đạo đức,văn hóa nghề luật sư chỉ có thể xuất hiện trên cơ sở nhận thức pháp luật và sự nhận thức về các giá trị xã hội của pháp luật. Nên vai trò của tư tưởng pháp luật, thái độ, tâm lý pháp luật của người luật sư trong xử sự trên thực tế là rất quan trọng.
Vậy để hoàn thiện đào đức, văn hóa nghề luật sư
Trước hết phải xây dựng một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, đồng thời người có thẩm quyền của CQNN thưc thi, áp dụng pháp luật phải có tinh thần thượng tôn pháp luật. Đây là nền tảng của đạo đức, văn hóa của những người hành nghề tư pháp nói chung. Thực trạng thiếu đạo đức, văn hóa pháp lý đang diễn ra một cách nghiêm trọng cả ngoài xã hội cũng như trong CQNN dưới nhiều hình thức khác nhau: chạy án, đưa nhận hối lộ, thái độ coi thường pháp luật, vi pham pháp luật một cách nghiêm trọng. Thưc trạng trên đây thêm một lần nữa thấm thía câu nói của Marx: “Pháp luật phải lấy xã hội làm cơ sở, pháp luật phải là sự biểu hiện của lợi ích và nhu cầu chung của xã hội do một phương thức sản xuất vật chất nhất định sản sinh ra mà không phải do ý muốn tùy tiện của một cá nhân”.
            Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền cũng xác định rõ mối quan hệ mật thiết giữa pháp luật và đạo đức chỉ rõ rằng: “ Xây dựng nhà nước phải dựa trên hai tiêu chuẩn, trong đó đạo đức làm gốc, pháp luật làm chuẩn. Theo đó nếu chỉ chú trọng xây dựng pháp luật mà thiếu quan tâm đến việc xây dựng một hệ thống chuẩn mực đạo đức cho cán bộ nhà nước sẽ không tránh khỏi tha hóa về nhân cách, dẫn đến khủng hoảng xã hội, chân lý không được tôn trọng.”. Do đó, phải đảm bảo hoàn thiện pháp luật gắn liền với việc phát huy, đề cao giá trị đạo đức và đặt chúng trong mối quan hệ với việc xây dựng hoàn thiện  thể chế dân chủ. Nên người thực thi pháp luật, phải được đào tạo về pháp luật, nắm vững và thường xuyên cập nhật kiến thức pháp luật mới để thi hành đúng pháp luât, đồng thời phải luôn rèn luyện đạo đức nghề nghiệp.
            Bên cạnh đó cần nâng cao sự hiểu biết pháp luật cho người dân, để họ xử sự đúng pháp luật. Ở đây vấn đề tuyên truyền, giáo dục pháp luật cho người dân có ý nghĩa quan trọng, tạo môi trường văn hóa pháp lý trong xã hội, thuận lợi cho việc rèn luyện đạo đức nghề nghiệp luật sư.
*   Luật sư không ngừng trau dồi đạo đức nghề nghiệp của mình
      Ngoài việc trau dồi kiến thức chuyên môn, trình độ nghiệp vụ vững vàng, luật sư phải có kiến thức sâu rộng về xã hội khác. Điều này thật sự cần thiết cho nghề luật sư, chỉ khi am hiểu cuộc sống  xã hội luật sư mới phân tích, nhận định, đánh giá được chính xác vấn đề, sự việc đang giải quyết, đưa ra những quan điểm đúng đắn, lập luận thuyết phục được đa số cộng đồng chấp nhận, từ đó bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của thân chủ một cách tốt nhất.
Bên cạnh đó, phẩm chất trung thực không thể thiếu ở người luật sư. Trung thực tức là tôn trọng sự thật, tôn trọng lẽ phải và công lý trong các quan hệ xã hội. Để có đức tính trung thực đòi hỏi người luật sư có đức tính dũng cảm và ngay thẳng. Luật sư trước hết phải ngay thẳng đối với chính mình, không vì lợi ích riêng mà bẻ cong công lý hay giúp cho người khác bẻ cong công lý. Tiếp đến ngay thẳng với người khác, trước hết là đối với người mà mình có nghĩa vụ bảo vệ và đối phương của người mà mình có nghĩa vụ bảo vệ. Những gì người mình bảo vệ thực sự bị xâm hại trái pháp luật thì bằng hết khả năng của mình phải lấy lại sự công bằng cho họ, điều gì người mình bảo vệ xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác thì không được tìm mọi thủ đoạn để bao che. Dũng cảm ở đây là dám đấu tranh cho công bằng, chân lý, lẽ phải.
Tình người cũng là một khái niệm đạo đức xã hội cũng là một trong những đức tính cần có của người luật sư. Tình người là một trong những động lực giúp cho luật sư làm việc hết khả năng không một chút vị lợi đối với người  mình có nghĩa vụ bảo vệ .
    Những đức tính này cho người luật sư một nguồn lực nội tâm, nguồn lực ấy được thể hiện ra bên ngoài qua phong cách, cử chỉ,ngôn ngữ của luật sư tạo nên sức mạnh đủ sức lôi cuốn, khuất phục lòng người. Đó là đạo đức, văn hoá nghề nghiệp luật sư.
   Như vậy đạo đức, văn hoá là những khái niệm cụ thể, bao gồm các quan điểm, cách ứng xử, hành động, những phẩm chất, sự hiểu biết về nhiều lĩnh vực mà người luật sư phải được trang bị trong trường học cũng là cái gì đó trừu tượng mà người luật sư phải tự học hỏi, tích luỹ trong suốt quá trình hoạt động nghế nghiệp của mình.
   Thật khó để đưa ra một nguyên mẫu chung nào, một mô hình thật cụ thể, chính xác cho đạo đức, văn hoá nghề luật sư. Tuy nhiên  thông qua hoạt động nghề nghiệp có thể đánh giá được đạo đức của một luật sư và nhận ra vẻ đẹp văn hoá trong nghề nghiệp của họ.
Người ta so sánh nghề luật sư cũng như nghề thầy thuốc, trong bất kì giờ phút nào cũng phải phục vụ “bệnh nhân” một cách vô điều kiện, cứu người không chỉ chỉ vì tiền mà vì công bằng xã hội, góp phần bảo vệ cơ thể xã hội thật khoẻ mạnh. Đây là nghề khó, do vậy đòi hỏi luật sư thật sự yêu nghề, tuyệt đối trung thành với lý tưởng đã chọn.
Xây dựng đạo đức,văn hoá nghề nghiệp luật sư là một quá trình rèn luyện liên tục về bản thân của mỗi luật sư. Quá trình rèn luyện ấy không tránh khỏi thiếu sót, lầm lỗi, điều quan trọng là biết cách khắc phục. Nhưng tốt nhất đừng để “nhúng chàm” vì nghề luật sư là nghề mà nhân thân có ảnh hưởng rất lớn và cũng đừng để câu nói “mua danh ba vạn bán danh ba đồng” tồn tại trong cuộc đời làm nghề luật sư của mình.
            Tính khách quan tột bậc, trung thực, ngay thẳng, sự hiểu biết sâu rộng kiến thức chuyên môn và xã hội, sự lịch thiệp tế nhị cao về xử sự cá nhân luôn hoà quyện vào nhau trong hoạt động nghề nghiệp hình thành nên cơ sở đạo đức, văn hóa nghề nghiệp luật sư. 

         Luật sư là một nghề còn non trẻ ở nước ta trong thời kì đổi mới, nên vấn đề đạo đức, văn hoá nghề luật sư là những khái niệm tương đối mới, cần có quá trình phân tích, đào sâu tìm hiều.
Trong khả năng nhận thức của mình, tôi xin trình bày một số khía cạnh về vấn đề đó mong góp phần xây dựng hình ảnh người luật sư Việt Nam ngày một hoàn thiện. Đó là người luật sư, đội ngũ luật sư đầy khả kính, xứng đáng với vị trí mà xã hội tôn vinh là nghề cao quý.