Vấn đề đạo đức, văn hoá nghề nghiệp luật sư, thực
trạng và hướng hoàn thiện, tôi đã chọn làm đề tài tốt nghiệp khóa nghiệp vụ luật sư (năm 2008), xin trình bày tóm tắt lại những vấn đề chủ yếu cần quan tâm của nội dung trên trong bài viết này để các bạn tham khảo.
Nghề luật sư là một nghề xuất hiện lâu đời ( những người đầu tiên có thể tự nhận mình là luật sư có lẽ là những nhà hùng biện ở thành Athens cổ đại Hy Lạp vào thế kỷ thứ 5 trước Công nguyên) và phổ biến ở
các nước phương tây, họ có vị trí, vai trò rất quan trọng trong xã hội. Trong
xu thế hội nhập, nghề luật sư trong xã hội Việt Nam đang được quan tâm trong những
năm gần đây ở nhiều góc độ, khía cạnh khác nhau.
Trước xu hướng toàn cầu hoá, luật sư Việt Nam phải làm gì để có vị thế ngang
tầm với luật sư trong khu vực và quốc tế. Bên cạnh sự thông suốt luật pháp quốc
gia, thông thạo luật quốc tế, nghĩa là kiến thức pháp luật trong nước và ngoài
nước phải vững vàng thì một yếu tố có ý
nghĩa quyết định trong hoạt động nghề nghiệp đó là đạo đức, văn hoá nghề nghiệp
của luật sư. Vấn đề này không chỉ có ý nghĩa quan trọng về hình ảnh người luật
sư trong đôi mắt cộng đồng xã hội Việt Nam
mà còn xây dựng hình ảnh luật sư Việt Nam trong đôi mắt cộng đồng quốc tế.
1. Đạo đức nghề luật
sư
Nghề luật sư
bên cạnh những nghề khác như nghề bác sĩ, nghề kinh doanh hay bất cứ nghề nào
theo tôi đều phải có đạo đức của
nghề đó. Tuy nhiên nghề luật sư là một trong những nghề đòi hỏi đạo đức nghề nghiệp cao phát xuất từ tính chất đặc thù của nghề nghiêp. Đó là nghề bổ trợ tư
pháp, bảo vệ quyền và lơị ích hợp pháp của đương sự đang bị vướng mắc về pháp
lý, phần lớn trong họ là những người không am hiểu pháp luật. Nếu họ gặp luật
sư không có đạo đức thì có thể họ bị “xoay” bởi luật sư và đương nhiên thiệt
hại lẽ ra không có sẽ thuộc về họ. Vậy đạo đức nghề luật sư là gì?
Theo từ điển tiếng việt đạo đức là những phẩm chất tốt đẹp
của con người.
Vậy có thể hiểu, đạo đức nghề luật sư là những phẩm chất tốt
đẹp của người làm nghề luật sư.
Đạo đức nghề nghiệp là hình thái đặc biệt về nhận thức của
con người về các phạm trù chính-tà, thiện-ác, tốt-xấu, phải-trái, cao
thượng-hèn hạ trong ứng xử nghề nghiệp của mình. Nó là một trong những phương
thức chủ yếu điều chỉnh hành vi của con người làm nghề đó trong xã hội vời sự
trợ giúp của hệ thống các qui phạm hoặc các chuẩn mực của xã hội được thể hiện
dưới hình thức thành văn hoặc không thành văn.
Khác với phạm trù đạo đức xã hội nói chung, đạo đức nghề nghiệp
luật sư không hoàn toàn dựa trên cái thiện, cái ác, điều xấu, điều tốt mang
nghĩa xã hội. Do nghề luât sư là nghề bổ trợ tư pháp nên đạo đức nghề luật sư
hình thành và tồn tại trong lĩnh vực hoạt động tư pháp. Vì vậy, nó phải lấy
pháp luật làm nền tảng bên cạnh đạo đức xã hội.
2.Văn hóa nghề nghiệp
luật sư
Văn hóa nghề
nghiệp đó là cái đẹp được thể hiện qua cách ứng xử của người luật sư.
Cái đẹp này được thể hiện ra bên ngoài thông qua hành vi, cử
chỉ, điệu bộ…của người luật sư với cá nhân, tập thể, cơ quan, tổ chức trong quá
trình hoạt động nghề nghiệp của mình. Văn hóa nghề nghiệp luật sư xây dựng nên
hình ảnh người luật sư, đội ngũ luật sư. Trong văn hóa ấy có cái chung, đăc
trưng cho những người làm nghề luật sư. Tuy nhiên, trong cái chung ấy có cái
riêng, đăc thù ở mỗi người luât sư. Do họ là những con người cụ thể, có tính
cách, tâm lý, ngoại hình khác nhau điều đó khiến cho không luật sư nào hoàn
toàn giống luật sư nào.
Ngoài ra văn hóa nghề nghiệp luật sư còn được hiểu là những
quan điểm, nhận thức, cách nhìn, thái độ tôn trọng pháp luật nói chung của luật
sư và ý thức tự giác tuân thủ các quy định của pháp luật trong quá trình hoạt
động nghề nghiệp của mình.
Văn hóa nghề nghiệp ảnh hưởng nhất định đến quan niêm, lập
trường , quan điểm, nhận thức xã hội của người luật sư trong hoạt động nghề
nghiệp của mình.
Nếu như văn hóa được nhận diện qua cách ứng xử của từng con
người, của cộng đồng xã hội trong các quan hệ thực tế thì văn hóa pháp lý nói
chung, văn hóa nghề nghiệp luật sư nói riêng được thể hiện trong đời sống pháp
lý thong qua quá trình thực hiện các hoạt động pháp luật bằng hành vi pháp lý
của luật sư.
Văn hóa nghề ngiệp luật sư được thể hiện qua văn hóa vật thể
và văn hóa phi vật thể. Chẳng hạn như ngôn ngữ của luật sư, đây là văn hóa phi
vật thể, ngôn ngữ ấy được thể hiện dưới dang văn hóa nói hoặc văn hóa viết. Đây
là “vũ khí” không thể thiếu của luật sư trong suốt hoạt động của mình.Cùng với
ngôn ngữ là tác phong đây là sự tổng hợp cách thức thể hiện ra bên ngoài của
luật sư như giọng nói, trang phục... Do đó luật sư phải sử dụng ngôn ngữ, thể
hiện phong cách như thế nào sao cho bộc lộ được sức mạnh, vẻ đẹp nghề nghiệp
của mình.
Văn hóa nghề nghiệp luật sư được hình thành qua từng thời kì
và nó là một pham trù xã hội nên mang tính phổ biến nghĩa là nó có sự tác động
đến những phạm trù khác trong xã hội. Do đó, ở mỗi thời kì nó có sự thay đổi
nhât định và ở mỗi quốc gia, văn hóa nghề nghiệp luật sư có nét riêng biệt cho
mình.
Trong mối
quan hệ giữa đạo đức và văn hóa nghề nghiệp luât sư, đây là mối quan hệ giữa
nội dung và hình thức.Trong đó, đạo đức là nội dung cái bên trong, văn hóa là
hình thức, cái biểu hiện ra bên ngoài của đạo đức. Không thể là người có văn
hóa khi không có đạo đức, ngược lại không thể có đạo đức nào không được thể
hiện ra bên ngoài qua cách ứng xử.
3.Sự cần thiết của
đạo đức,văn hóa đối với nghề luật sư
Khi bàn về đạo
đức,văn hóa nghề nghiệp luật sư, có nhiều nhận thức và quan điểm khác nhau. Có
người cho rằng: trong xã hội, nghề nào cũng đòi hỏi người làm nghề phải có cái
tâm, trách nhiệm nghề của mình trước xã hội. Vậy có cần thiết phải đăt đạo đức, văn hóa nghề nghiệp luật sư
thành vấn đề riêng không? Cũng có người cho rằng: trong nền kinh tế thị trường,
mỗi ngành nghề trong xã hội đều mang tính cạnh tranh, cạnh tranh để tồn tại và
phát triển. Hoạt động nghề nghiệp luật sư cũng là một nghề như những ngành nghề
khác, cũng chịu sự chi phối của qui luật thị trường, nói rõ hơn nó là nghề kinh
doanh pháp lý. Nên việc đăt đạo đức, văn hóa nghề nghiệp luật sư thành vấn đề
riêng bàn luận là không cần thiết.
Chung qui
lai, tuy có những khía cạnh khác nhau nhưng họ có chung một quan điểm không coi
trọng đạo đức, văn hóa nghề nghiệp luật sư mà còn đánh đồng nghề luật sư như
mọi nghề khác.
Vâng đã là
con người , khi làm bất cứ nghề gì đều phải có đạo đức, trách nhiệm đối với
nghề mình làm. Tùy thuôc vào tính chất đặc thù của mỗi nghề, đòi hỏi người làm
nghề phải có những phẩm chất đạo đức, văn hóa nghề nghiệp khác nhau, không có
cái đạo đức chung cho tất cả ngành nghề.
Chẳng hạn đối với nghề giáo viên, người thầy không chỉ dạy
cái chữ để chống sự mù chữ mà mục tiêu cao cả của nghề dạy học là dạy cách làm
người và trở thành con người có đủ những phẩm chất tốt đẹp, dìu dắt các thế hệ
hướng đến cái chân, thiện, mỹ. Như vậy người thầy ấy không những phải có kiền
thức chuyên môn vững chắc, mà trong họ phải có cái chân, thiện, mỹ. Cái chân,
thiện, mỹ đó được biểu hiện ra bên ngoài qua cách ứng xử của họ trong xã hội, để
cho học trò của họ trông thấy và noi theo. Đó là đạo đức, văn hóa của nghề giáo
viên.
Nghề chữa bệnh, các thầy thuốc dùng hết khả năng của mình để
cứu người đang bị bệnh, giành lấy sự sống cho bệnh nhân, góp phần bảo vệ sức
khỏe con người, đem lại hạnh phúc cho cộng đồng. Với mục tiêu cao cả ấy, người
thầy thuốc không bao giờ coi trọng đồng tiền hơn sự cứu người, tận tụy chăm sóc
bệnh nhân. Chính vì thế đã xây dựng lên hình ảnh đẹp về người thầy thuốc trong
xã hội và được tôn vinh là “Lương y như từ mẫu”.
Còn nghề sản xuất, kinh doanh thì sao, họ cung cấp những nhu
cầu cho xã hội, tìm lợi nhuận trên khối óc, khả năng tính toán khéo léo của
mình không thể có sự gian dối. Đó là đạo đức, văn hóa của những người kinh
doanh chân chính.
Người làm nghề luật sư, trong hoạt động nghề nghiệp thể hiên
ba tính chất cơ bản.
Tính chất trợ giúp
Trong đời sống xã hội, do sự tác động của quy luật phát triển,
dẫn đến trong xã hội có những người rơi vào vị thế thấp kém so với mặt bằng của
xã hội. Chẳng hạn người nghèo, trẻ lang thang, người già yếu neo đơn. Những
người ở vị thế thấp kém này khi bị đói xử bất công, trái pháp luật, trái đạo
đức xã hội, hơn lúc nào hết họ cần được giúp đỡ, bên vực của người khác để lấy
lại sự công bằng cho họ trong xã hội.
Trong đó có vai trò của người luật sư. Chẳng hạn đối với một người đang bị Viện
kiểm sát truy cứu trách nhiệm hình sự, họ phải đối mặt với quyền lực nhà nước
đại diện cho xã hội buộc tội họ. Không phải ai cũng đủ hiểu biết để tự bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Sự có mặt của luật sư trong trường hợp này
là rất cần thiết. Trước hết tạo sự an tâm cho họ vì đã có chõ dựa tinh thần,
tiếp đến tạo sư đối trọng cân bằng giữa họ với cơ quan quyền lực nhà nước.
Chính vì thế, pháp luật qui đinh mọi người đều có quyền tự mình bào chữa hoặc
nhờ người khác bào chữa, Bộ luật tố tụng hình sự qui định tại Điều 57 “ Người
bi TCTNHS về tội theo khung hình phạt
cao nhất là tử hình được qui định trong Bộ luật hình sự hoặc là người
chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất, tinh thần thì buộc phải có
người bào chữa.” Sự trợ giúp của luật sư lúc này hoàn toàn vô tư, không vụ lợi.
Ngay từ thời cổ đại, những thế kỉ trước và sau công nguyên, những người dám
đứng ra bên vực cho những người yếu thế trong xa hội được mệnh danh là “hiêp
sỹ”. Ngày nay, con người được sống trong xã hội văn minh, tiến bộ, dân chủ
nhưng không đồng nghĩa xã hội đã hết sự bất công, những con người yếu kém được
đối xử bình đẳng, đươc hưởng những quyền , lợi ích như pháp luật đã quy định.
Vì thế hoạt động trơ giúp của luật sư đối với những con người này không chỉ là
bổn phận mà còn là thước đo lòng nhân ái, đạo đức của người luật sư.
Tính chất hướng dẫn
Do tính chất
nghề nghiệp, đòi hỏi luật sư không chỉ thông hiểu pháp luật hiện hành, mà còn
phải hiểu cả tinh thần, nội dung những qui định của pháp luật trong từng thời
điểm của thời gian đã qua, ngoài ra còn hiểu sâu rộng cả phong tục, bản sắc dân
tộc.
Mọi người hiểu và nghĩ về luật sư như vậy, cho nên mỗi khi
bản thân, gia đình có điều gì vướng mắc không chỉ riêng vấn đề pháp lý đều tìm
đến luật sư, nhờ luật sư tư vấn.
Vì vậy hoạt động nghề luật sư luôn mang tính hướng dẫn.
Yêu cầu của hoạt động này là hướng dẫn cho đương sự hiểu
đúng tinh thần, nội dung pháp luật để biết cách xử sự, tháo gỡ vướng mắc của họ
phù hợp với pháp luật, đạo ý xã hội. Hoạt động hướng dẫn của luật sư còn là sự
chỉ dẫn cái đúng, cái sai, việc gì được làm. Đối với người có tội, tuy chức
năng của luật sư không phải lên án, buộc tội họ trước pháp luật, nhưng luật sư
phải chỉ rõ tội lỗi họ đã làm, từ đó giúp cho họ hướng đến cái thiện. Nếu có
căn cứ cho rằng họ không có tội hoăc họ bị qui kết sai tội hay mức trừng phạt nặng so với hành vi vi phạm của họ thì
luật sư phải sử dụng mọi biện pháp mà pháp luật cho phép nhằm chứng minh họ
không có tội, kết sai tội và gỡ tội cho họ.
Tính chất phản biện
Đối với hoạt động nghề nghiệp luật sư,
tính chất phản biện được hiểu là luật sư vận dụng các lý lẽ của mình để phản bác lại những lý
lẽ, ý kiến, quan điểm của người khác mà mình cho là không đúng.
Tính chất phản biện trong hoạt động
nghề nghiệp luật sư thông thường thể hiện rõ nét nhất trong hoạt động tố tụng
hình sự. Điều 36, khoản 3 Bộ luật TTHS qui định: “Người bào chữa có nghĩa vụ sử
dụng mọi biện pháp do pháp luật để làm sáng tỏ những tình tiết xác định bị can,
bị cáo vô tội, những tình tiết giảm nhẹ TNHS của bị can, bị cáo; giúp bị can,
bị cáo về mặt pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ.”
Qui định này là cở pháp lý đảm bảo
tính chất phản biện của luật sư trong quá trình hoạt động tố tụng hình sự. Tính
chất phản biện là nghiã vụ pháp lý của luật sư phải thực hiện.
Tuy nhiên nhiều người đã lầm tưởng
tính chất phản biện nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo
với việc bao che tội phạm.
Tính chất phản biện khác ngụy biện ở
chỗ, phản biện phải dựa trên sự thông hiểu tường tận vệ pháp lý và đạo lý. Phản
biện phải lấy pháp luật và đạo đức xã hội làm chuẩn mực để xem xét mọi khía
cạnh của sự việc nhằm xác định rõ đâu là đúng đâu là sai, thế nào là trái thế
nào là phải từ đó đề xuất những biện pháp phù hợp loại bỏ cái sai, bảo vệ cái
đúng, lẽ phải đó chính là bảo vệ công lý.
Còn ngụy biện đó là sự cố ý dùng
những lý lẽ tưởng chừng đúng nhưng thực ra là sai, để rút ra những kết luận
xuyên tạc không đúng sự thật. Hoạt động luật sư cần đảm bảo sao cho phản biện của mình có
khoảng cách rõ nét với ngụy biện. Đó là đạo đức nền tảng của nghề luật sư.
Trong trường hợp, luật sư không
phát hiện ra điều gì sai, không có cơ sở để phản biện thì vai trò của luật sư
có cần thiết nữa không?
Khi người tiến hành tố, cơ quan
tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án hoàn toàn đúng pháp luật,
nhận định, kết luận hoàn toàn chuẩn xác, thì không còn chỗ cho luật sư phản
biện, vậy hoạt động của luật sư trong trường hợp này là người chứng kiến.
Vai trò là người chứng kiến của
luật sư không phải là không quan trọng. Có sự hiện diện của luật sư là chỗ dựa
tin cậy của bị can, bị cáo. Sự chứng kiến của luật sư trong khi lấy lời khai,
khi đối chất, khi xét xử chắc chẳn rằng quyền và lợi ích hợp pháp mà pháp luật dành
cho họ sẽ được đảm bảo. Dù họ là người phạm tội, họ phải chịu sự trừng phạt của
pháp luật nhưng không ai có quyền tra tấn, đánh đập, hành hạ họ về thể chất cũng
như tinh thần. Có người kém hiểu biết hoặc do quá sợ hãi, không có tội mà vẫn ký
vào biên bản nhận tội dù biết tội đó đặc biệt nghiêm trọng, có thể bị áp dụng mức
hình phạt cao nhất. Điển hình như vụ “Ai giết chị Là” ở Đông Triều, Quảng Ninh,
vụ V-A- K ở Gia Lâm, Hà Nội, vụ Nguyễn Hữu Đạo ở Thanh Hóa. Điều đáng nói là các
vụ án này đều không có sự tham gia có tính chất phản biện của luật sư.
Do vai trò, tác dụng của hoạt động
nghề luật sư nên Điều 3 Luật luật sư năm 2007 đã nêu rõ “ hoạt động nghề nghiệp
của luật sư nhằm góp phần bảo vệ công lý, phát triển kinh tế và xây dựng xã hội
công bằng, dân chủ, văn minh.”. Nghị quyết 08 của Bộ chính trị viết “Các cơ
quan Tư pháp có trách nhiệm tạo điều kiện để luật sư tham gia vào quá trình tố
tụng, tham gia hỏi cung bị can, bị cáo, nghiên cứu hồ sơ vụ án, tranh luận dân
chủ tại phiên tòa…”
Ba
tính chất hoạt động nghề nghiệp của luật sư, đã thể hiện sự dặc thù và sự khác
biệt nghề luật sư với các ngành nghề khác. Người làm nghề kinh doanh, khi họ dự
đoán được kết quả kinh doanh không có lợi nhuận hay thua lỗ thì không bao giờ họ
làm. Người làm nghề luật sư, biết công việc mình làm là nguy hiểm nhưng vẫn phải
thực hiện. Chẳng hạn bào chữa cho bị cáo phạm tội giết người, biết rõ gia đình
nạn nhân có thể trả thù nhưng luật sư không được phép từ chối bào chữa khi được
chỉ định.
Chính sự đặc thù nghề nghiệp, nên
nghề luật sư được xã hội tôn vinh là nghề cao quý.
Vậy làm thế nào để được coi là người luật
sư có đạo đức, văn hóa trong nghế nghiệp?
Ở nước ta, tiêu chuẩn để trở thành luật
sư theo Luật luật sư năm 2007, tại Điều 10 qui định: “ Công dân Việt Nam, trung
thành với tổ quốc, tuân thủ hiến pháp và pháp luật, có phẩm chất đạo đức tốt, có
bằng cử nhân luật, đã được đào tạo nghề luật sư, đã qua thời gian thực tập hành
nghề luật sư, có sức khỏe đảm bảo hành nghề luật sư thì có thể trở thành luật sư.”
Như vậy, luật sư ngoài việc hiểu biết
sâu sắc về chuyên môn, nghiệp vụ, thành thạo trong các thao tác, nhuận nhuyễn
trong việc vận dụng pháp luật, nhạy bén trong việc ứng xử các tình huống phức tạp
còn phải có phẩm chất đạo đức tốt.
Trước hết, luật sư phải ý thức được trách nhiệm của mình
là bảo vệ công lý, góp phần đem lại sự công bằng cho con người trong xã hội. Nên một yêu cầu tiên quyết đối với luật
sư, họ phải là công dân tốt, gương mẫu chấp hành hiến pháp, pháp luật, đăc biệt
pháp luật liên quan mật thiết đối với nghề nghiệp của mình.
THỰC TRẠNG ĐẠO ĐỨC, VĂN HÓA NGHỀ LUẬT SƯ VÀ NGUYÊN NHÂN CỦA NÓ Ở VIỆT NAM
1.Thực trạng
Trong xu thế hội nhập và phát triển kinh
tế, vai trò của nghề luật sư rất quan trọng. Tuy nhiên vị trí,vai trò của luật
sư trong xã hội Việt Nam
chưa được quan tâm đúng mức. Để đưa vị trí nghề luật sư ngang tầm với giá trị của
nó cần phải nhận diện chính xác về thực trạng đạo đức, văn hóa nghề luật sư là điều
hết sức cần thiết và thiết thực.
* Thứ
nhất, đạo đức, văn hóa pháp lý nói chung, đạo đức ,văn hóa các nghề tư pháp
trong đó có nghề luật sư chưa được đề cập trong công tác đào tạo luật ở các trường
đại học.
Trong quá trình đào tạo luật, chủ yếu người
học được trang bị kiến thức nhằm áp dụng luật để xử lý, giải quyết các tình huống
cụ thể sao cho đúng qui định của pháp luật. Mảng kiến thức về đạo đức, văn hóa
nghề nghiêp đối với từng chức danh tư pháp hầu như không được trang bị. Do đó có
thể nói, người học bị hổng về mảng kiến
thức này. Chỉ khi bước vào từng nghề cụ thể, người hoc mới tự học hỏi và được rèn
luyện thông qua việc tuân thủ qui chế ngành.
Hiện nay trong quá trình đào tạo các chức
danh tư pháp như thẩm phán, kiểm sát viên, luật sư, người học được trang bị trên
lý thuyết về đạo đức nghề nghiệp nhưng người học tự tìm hiểu, rèn luyện là chính.
Trong quá trình đào tạo các chức
danh tư pháp ở Pháp, người học được học môn đạo đức học. Các học viên được đi
thực tập tại các nơi xét xử, văn phòng luật sư. Họ phải chạm chán trên thực tế
những vấn đề không tương hợp, về lòng không trung thực, về thái độ dè dặt với
những liên lụy về đạo đức nghề nghiệp khác nhau trong khi thực hiện nghĩa vụ của
mình. Từ đó người học nhạy cảm với những vấn đề không được đề cập trong văn bản
pháp luật.
Hiện nay Việt Nam có nhiều cơ sở đào tạo luật với
nhiều hình thức đào tạo khác nhau, nhưng chưa cơ sở nào chú trọng đào tạo đạo đức,
văn hóa pháp lý nói chung.
Nên người học pháp luật không phải
ai cũng có đạo đức, văn hóa pháp luật được thể hiện trong nghề luật của mình.
*
Thứ hai, môi trường pháp chế chưa nghiêm
Để đạo đức, văn hóa nghề nghiệp tồn tại và phát triển, trước hết phải có
môi trường nuôi dưỡng nó. Cũng thế đối với đạo đức, văn hóa nghề luật sư phải có
môi trường để nó hình thanh, tồn tại và phát triển. Điều này có nghĩa là, hệ thống
pháp luật hoàn chỉnh, trong xã hội pháp luật phải được tôn trọng tuyệt đối, cơ
chế thực thi pháp luật , bảo vệ pháp luật chặt chẽ và hiệu quả.Tuy nhiên ở nước
ta do nhiều nguyên nhân đem lại mà tính pháp chế trong hoạt động pháp lý chưa
cao. Hiện tượng văn bản pháp lý chồng chéo nhau, văn bản luật không có giá trị
bằng văn bản dưới luật, văn bản luật không được chấp hành nghiêm chỉnh, coi thường
pháp luật không phải hiếm thấy ở nước ta. Tình hình này không những làm giảm hiệu
lực của hệ thống pháp luật trong việc điều chỉnh xã hội mà còn gây mất niềm tin
của người dân đối với pháp luật, người thực thi, áp dụng pháp luật. Nói rộng hơn,
thực trạng văn hóa pháp lý nước ta đã mất đi một phần giá trị cần thiết của nó
trong sư đem lại công bằng, khách quan, hờp pháp. Từ đó dẫn đến nhiều hệ lụy,
chẳng hạn CQTHTT, NTHTT,luật sư là những người có cùng một mục đích là tìm ra sự
thật khách quan của vụ việc, giải quyết vụ án đúng pháp luật, bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của người dân. Nhưng thực tế không ít CQTHTT, NTHTH gây khó khăn
cho luật sư trong viêc thực hiện nhiêm vụ của mình hay những quan điểm luật sư đưa
ra không được quan tâm. Đôi khi tao ra mối quan hệ căng thẳng giữa luật sư với
NTHTH. Ví dụ điển hình, sau khi kết thúc phiên tòa vụ án Vườn điều năm 2004 tỉnh
Bình Thuận. Cuộc họp liện ngành Tòa án. Viện kiểm sát, Công an tỉnh Bình Thuận đã
ra văn bản gửi Đoàn luật sư tp Hà Nội,
tp Hải Phòng và các cơ quan liên quan quản lý ba luật sư bào chữa cho những bị
cáo trong vụ án với kiến nghi xử lý vì đã “đã xâm phạm uy tín của CQTHTT, xâm
phạm danh dự, nhân phẩm của điều tra viên…”
Và không ít luật sư đã biến mình thành
“thầy cò, thầy kiện”, xuyên tạc sự thật khách quan bằng lời lẽ ngụy biện cốt
theo yêu cầu của khách hàng, trái ra phải, phải ra trái, có tội nói là không tội,
không tội lại đe dọa là có hoặc khung hình phạt ở mức cao để hàng sợ mà chi tiền.
Cơ chế pháp lý không tốt tạo điều kiện cho những người kém phẩm chẩt như thế trục
lợi bất chính.
* Thứ
ba, công tác trợ giúp pháp lý mới được hình thành, hoạt động còn hạn chế
Hiện nay riêng ở tp. Hồ Chí Minh
thành lập được bảy trung tâm trợ giúp pháp lý miễn phí. Trong điều kiện
công tác tuyên truyền pháp luật có nhiều khó khăn thi các hoạt động tợ giúp pháp
lý càng thiết thực, vì nó đáp ứng nhu cầu bức xúc của nhân dân. Hầu hết những
người tư vấn là luật sư hay luật gia. Họ góp phần vào việc tuyên truyềng pháp
luật, giải quyết các vướng mắc pháp lý cho dân,
từ đó phổ biến pháp luật cho người dân và cũng nâng cao văn hóa pháp lý trong cộng đồng.Tuy nhiên hệ thống các tổ chức
tư vấn pháp luật, trợ giúp pháp lý chưa đủ mạnh trong việc bảo vệ quyền, lợi ích
hợp pháp của dân, hoạt động này mới chỉ dừng lại ở tư vấn, soạn thảo đơn.
Thêm vào đó, hoạt động của các đoàn
luật sư, hội luật gia, các trung tâm hõ trợ pháp lý chưa đồng bộ giữa các địa
phương, những tổ chức náy tập trung ở các thành phố lớn, vùng nông thôn, miền núi
có nơi không có mặc dù nơi đây người dân rất có nhu cầu.
2.
Nguyên nhân
Nguyên
nhân dẫn đến thực trạng đạo đức, văn hóa nghề luật sư chưa cao có nhiều, song
những nguyên nhân chủ yếu là do:
*
Hệ thống pháp luật trong thời kỳ đổi mới chưa hoàn
thiện, ổn định về các chuẩn mực, cách thức tác động
Nói rộng ra, văn hóa pháp lý là nền tảng
để ban hành quy phạm pháp luật(QPPL), hoàn thiện hệ thống pháp luật. Ngược lai,
hệ thống pháp luật là một trong những tiêu chí đễ đánh giá văn hóa pháp lý, là
cơ sở để củng cố, bảo vệ giá trị văn hóa pháp lý. Hiện nay chất lượng văn bản
QPPL chưa cao, nhiều qui định pháp luật không rõ ràng, thiếu ổn định, công tác
hệ thống hóa pháp luật không được tiến hành thường xuyên, gây khó khăn cho việc
tiếp cận, nhận thức và thực hiện, áp dụng pháp luật. Dẫn đến sự hiểu và áp dụng
không thống nhất giữa các CQNN.
Riêng vấn đề quy định đạo đức nghề
nghiệp luật sư, một nghề đăc thù đòi hỏi phải trong sáng về đạo đức, văn hóa.
Do đó phải tuân thủ những quy tắc đạo đức nghề nghiệp như thế mới nâng cao uy tín,
vị thế của nghề mình trong xã hội. Luật sư chịu sự điều chỉnh bởi Luật luật sư
và Bản quy tắc đạo đức nghề luật sư.Hiện nay, bản quy tắc này có nhiều bất cập
nhưng chưa có điều kiến sửa. Do đó mõi Đoàn luật sư có quy định cho thành viên
của mình, chưa có quy đình thống nhất áp dụng cho toàn luật sư Việt Nam.
Bên cạnh đó, một số người thực thi, áp
dụng pháp luật coi thường pháp luật hoặc lợi dụng lỗ hổng pháp luật để nhũng
nhiễu, hạch sách người dân nhằm kiếm lợi cho mình, bản thân người luật sư muốn
làm được việc phải bước qua ngưỡng cửa đạo đức nghề nghiệp.
* Luật
sư chưa thật sự có ý thức xây dựng đạo đức, văn hóa nghề nghiệp
Bên cạnh
những luật sư thật sự có tâm huyết với nghề, đóng góp công sức xây dựng hình ảnh
người luật sư chuẩn mực, khả kính và họ đã thực sự được xã hội tôn trọng thì không
ít những luầt sư chỉ vì đồng tiền đã chà đạp lên tất cả giá trị đạo đức, văn hóa
nghề nghiệp. Điển hình như luật sư Quốc Dũng thuộc Đoàn luật sư tp.Hồ Chí Minh.
Luật sư là một nghề và có thu nhập từ nghề ấy. Tùy vào khả năng của mỗi luật sư
mà họ có thu nhập cao hoặc thu nhập thấp từ nghề của mình. Tuy nhiên không vì lợi
ích riêng của mình mà gây thiệt hại cho các đồng nghiệp. Điều này là trái với lẽ
công bằng theo phạm trù đạo đức. Bởi lợi ích mình có được từ nghề luật sư thì
chỉ mình hưởng, nhưng những lỗi do mình gây ra từ hoạt động nghề nghiệp thì không
những mình mà còn cả đồng nghiệp cũng phải chịu.
HƯỚNG
HOÀN THIỆN
Từ việc nhận ra những nguyên nhân
chủ yếu dẫn đến thực trạng đạo đức, văn hóa nghề luật sư còn nhiều khiếm khuyết,
tôi xin đưa ra những phương hướng khắc phục để xây dựng đạo đức,văn hóa luật
sư ngày một hoàn thiện hơn.
Về phương diện lý luận, mục tiêu
của đổi tượng xây dựng đạo đức,văn hóa nói chung là nhằm tạo ra hai yếu tố môi
trường đạo đức, văn hóa và con người đạo đức, văn hóa. Hai nhân tố này tác động
biện chứng với nhau. Trong đó yếu tố con người là quyết định. Như thế xây dựng đạo
đức, văn hóa nghề nghiệp luật sư không thể không xây dựng con người luật sư có đạo
đức văn hóa nghề nghiệp. Mặt khác vì môi trường đạo đức,văn hóa nghề luật sư chỉ
có thể xuất hiện trên cơ sở nhận thức pháp luật và sự nhận thức về các giá trị
xã hội của pháp luật. Nên vai trò của tư tưởng pháp luật, thái độ, tâm lý pháp
luật của người luật sư trong xử sự trên thực tế là rất quan trọng.
Vậy để hoàn thiện đào
đức, văn hóa nghề luật sư
* Trước
hết phải xây dựng một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, đồng thời người có thẩm quyền
của CQNN thưc thi, áp dụng pháp luật phải có tinh thần thượng tôn pháp luật. Đây
là nền tảng của đạo đức, văn hóa của những người hành nghề tư pháp nói chung. Thực
trạng thiếu đạo đức, văn hóa pháp lý đang diễn ra một cách nghiêm trọng cả ngoài
xã hội cũng như trong CQNN dưới nhiều hình thức khác nhau: chạy án, đưa nhận hối
lộ, thái độ coi thường pháp luật, vi pham pháp luật một cách nghiêm trọng. Thưc
trạng trên đây thêm một lần nữa thấm thía câu nói của Marx: “Pháp luật phải lấy
xã hội làm cơ sở, pháp luật phải là sự biểu hiện của lợi ích và nhu cầu chung của
xã hội do một phương thức sản xuất vật chất nhất định sản sinh ra mà không phải
do ý muốn tùy tiện của một cá nhân”.
Tư
tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền cũng xác định rõ mối quan hệ mật thiết
giữa pháp luật và đạo đức chỉ rõ rằng: “ Xây dựng nhà nước phải dựa trên
hai tiêu chuẩn, trong đó đạo đức làm gốc, pháp luật làm chuẩn. Theo đó nếu chỉ
chú trọng xây dựng pháp luật mà thiếu quan tâm đến việc xây dựng một hệ thống
chuẩn mực đạo đức cho cán bộ nhà nước sẽ không tránh khỏi tha hóa về nhân cách,
dẫn đến khủng hoảng xã hội, chân lý không được tôn trọng.”. Do đó, phải đảm bảo
hoàn thiện pháp luật gắn liền với việc phát huy, đề cao giá trị đạo đức và đặt
chúng trong mối quan hệ với việc xây dựng hoàn thiện thể chế dân chủ. Nên người thực thi pháp luật,
phải được đào tạo về pháp luật, nắm vững và thường xuyên cập nhật kiến thức pháp
luật mới để thi hành đúng pháp luât, đồng thời phải luôn rèn luyện đạo đức nghề
nghiệp.
Bên
cạnh đó cần nâng cao sự hiểu biết pháp luật cho người dân, để họ xử sự đúng pháp
luật. Ở đây vấn đề tuyên truyền, giáo dục pháp luật cho người dân có ý nghĩa
quan trọng, tạo môi trường văn hóa pháp lý trong xã hội, thuận lợi cho việc rèn
luyện đạo đức nghề nghiệp luật sư.
*
Luật sư không ngừng trau dồi đạo đức nghề nghiệp
của mình
Ngoài việc trau dồi kiến thức chuyên môn,
trình độ nghiệp vụ vững vàng, luật sư phải có kiến thức sâu rộng về xã hội khác.
Điều này thật sự cần thiết cho nghề luật sư, chỉ khi am hiểu cuộc sống xã hội luật sư mới phân tích, nhận định, đánh
giá được chính xác vấn đề, sự việc đang giải quyết, đưa ra những quan điểm đúng
đắn, lập luận thuyết phục được đa số cộng đồng chấp nhận, từ đó bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của thân chủ một cách tốt nhất.
Bên cạnh đó, phẩm chất trung thực
không thể thiếu ở người luật sư. Trung thực tức là tôn trọng sự thật, tôn trọng
lẽ phải và công lý trong các quan hệ xã hội. Để có đức tính trung thực đòi hỏi
người luật sư có đức tính dũng cảm và ngay thẳng. Luật sư trước hết phải ngay
thẳng đối với chính mình, không vì lợi ích riêng mà bẻ cong công lý hay giúp
cho người khác bẻ cong công lý. Tiếp đến ngay thẳng với người khác, trước hết là
đối với người mà mình có nghĩa vụ bảo vệ và đối phương của người mà mình có nghĩa
vụ bảo vệ. Những gì người mình bảo vệ thực sự bị xâm hại trái pháp luật thì bằng
hết khả năng của mình phải lấy lại sự công bằng cho họ, điều gì người mình bảo
vệ xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác thì không được tìm mọi
thủ đoạn để bao che. Dũng cảm ở đây là dám đấu tranh cho công bằng, chân lý, lẽ
phải.
Tình người cũng là một khái niệm
đạo đức xã hội cũng là một trong những đức tính cần có của người luật sư. Tình
người là một trong những động lực giúp cho luật sư làm việc hết khả năng không
một chút vị lợi đối với người mình có
nghĩa vụ bảo vệ .
Những đức tính này cho người luật sư một
nguồn lực nội tâm, nguồn lực ấy được thể hiện ra bên ngoài qua phong cách, cử
chỉ,ngôn ngữ của luật sư tạo nên sức mạnh đủ sức lôi cuốn, khuất phục lòng người.
Đó là đạo đức, văn hoá nghề nghiệp luật sư.
Như
vậy đạo đức, văn hoá là những khái niệm cụ thể, bao gồm các quan điểm, cách ứng
xử, hành động, những phẩm chất, sự hiểu biết về nhiều lĩnh vực mà người luật sư
phải được trang bị trong trường học cũng là cái gì đó trừu tượng mà người luật
sư phải tự học hỏi, tích luỹ trong suốt quá trình hoạt động nghế nghiệp của mình.
Thật
khó để đưa ra một nguyên mẫu chung nào, một mô hình thật cụ thể, chính xác cho đạo
đức, văn hoá nghề luật sư. Tuy nhiên thông
qua hoạt động nghề nghiệp có thể đánh giá được đạo đức của một luật sư và nhận
ra vẻ đẹp văn hoá trong nghề nghiệp của họ.
Người ta so sánh nghề luật sư cũng
như nghề thầy thuốc, trong bất kì giờ phút nào cũng phải phục vụ “bệnh nhân” một
cách vô điều kiện, cứu người không chỉ chỉ vì tiền mà vì công bằng xã hội, góp
phần bảo vệ cơ thể xã hội thật khoẻ mạnh. Đây là nghề khó, do vậy đòi hỏi luật
sư thật sự yêu nghề, tuyệt đối trung thành với lý tưởng đã chọn.
Xây dựng đạo đức,văn hoá nghề
nghiệp luật sư là một quá trình rèn luyện liên tục về bản thân của mỗi luật sư.
Quá trình rèn luyện ấy không tránh khỏi thiếu sót, lầm lỗi, điều quan trọng là
biết cách khắc phục. Nhưng tốt nhất đừng để “nhúng chàm” vì nghề luật sư là nghề
mà nhân thân có ảnh hưởng rất lớn và cũng đừng để câu nói “mua danh ba vạn bán
danh ba đồng” tồn tại trong cuộc đời làm nghề luật sư của mình.
Tính
khách quan tột bậc, trung thực, ngay thẳng, sự hiểu biết sâu rộng kiến thức
chuyên môn và xã hội, sự lịch thiệp tế nhị cao về xử sự cá nhân luôn hoà quyện
vào nhau trong hoạt động nghề nghiệp hình thành nên cơ sở đạo đức, văn hóa nghề
nghiệp luật sư.
Luật sư là một nghề
còn non trẻ ở nước ta trong thời kì đổi mới, nên vấn đề đạo đức, văn hoá nghề luật
sư là những khái niệm tương đối mới, cần có quá trình phân tích, đào sâu tìm hiều.
Trong khả năng nhận thức của mình, tôi xin trình bày
một số khía cạnh về vấn đề đó mong góp phần xây dựng hình ảnh người luật sư Việt
Nam
ngày một hoàn thiện. Đó là người luật sư, đội ngũ luật sư đầy khả kính, xứng đáng
với vị trí mà xã hội tôn vinh là nghề cao quý.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét