Chủ Nhật, 2 tháng 6, 2013

Kinh Nghiệm Tập Sự Hành Nghề Luật Sư

Bài viết này tôi tặng cho các bạn tập sự để trở thành một luật sư thực thụ đi từ công sức và trí tuệ của mình!

Bạn cũng biết rằng sau khi có chứng chỉ qua lớp đào tạo luật sư bạn phải trải qua thời gian tập sự 18 tháng.
Sau đó bạn phải qua một kỳ thi hết tập sự, nếu đạt yêu cầu bạn mới được cấp chứng chỉ hành nghề luật sư và thẻ luật sư.

Dưới đây là một số kinh nghiệm trong suốt thời gian tập sự tôi rút ra được, tôi muốn chia sẻ cùng các bạn thực sự yêu nghề luật sư.
Thứ nhất, trong giai đoạn bạn tập sự cho một tổ chức hành nghề luật sư bạn phải xác định được toàn bộ cục diện, vị thế bạn ở đâu? Bạn chỉ là người đi học việc để trở thành luật sư không hơn không kém. Nghĩa là bạn bị trói cả hai tay hai chân! Bạn chẳng làm được gì theo ý mình cả! Bạn có thể bị người ta ném xuống vực thẳm, sẽ không bao giờ trở thành luật sư hoặc bạn còn "sống sót" qua ải này là tùy vào sự khéo léo, khôn ngoan, bền chí, vững vàng của bạn.
Qui định của luật luật sư hạn chế rất nhiều quyền của tập sự luật sư so với pháp lệnh luật sư trước đây. Thông tư 21 xác định quyền và nghĩa vụ của tập sự luật sư tại Điều 10, Điều 11. Hầu như bạn chỉ là người giúp việc cho luật sư hướng dẫn của bạn. Thay đổi này, bạn được quyền khóc lóc, quyền bất bình nhưng bạn không được quyền phản đối!
Thứ hai, về lương trong quá trình tập sự hầu như tổ chức nhận bạn tập sự không trả lương cho bạn, đôi khi bạn phải bỏ tiền riêng để chi phí cho vụ việc họ giao cho bạn làm. Nên trước khi đăng ký tập sự nếu bạn không có nguồn trợ giúp tài chính nào thì bạn cần tìm một vài doanh nghiệp tư vấn dài hạn hoặc làm thêm buổi tối để có nguồn thu ổn định duy trì hết thời gian tập sự.
Thứ ba, về kiến thức pháp luật bạn phải ôn lại toàn bộ kiến thức trong suốt thời gian tập sự nếu không đến ngày thi bạn sẽ rất vất vả. Vì khi gần hết thời gian tập sự bạn phải viết báo cáo, viết tiểu luận gửi về Đoàn luật sư, những việc này tốn rất nhiều thời gian. Hầu như bạn không có thời gian để ôn lại kiến thức.
Thứ tư, những công việc gì bạn được giao bạn phải lưu vào cuốn nhật ký riêng của bạn. Ví dụ, khi đại diện cho đương sự, làm các dịch vụ pháp lý như xin cấp giấy phép kinh doanh, giấy phép đầu tư, đăng ký quyền sở hữu ...  bạn phải ghi chép lại nội dung vụ việc, thời gian địa điểm, cơ quan nào giải quyết, các vấn đề pháp lý đặt ra, hướng giải quyết. Đồng thời bạn lưu lại các giấy tờ đó làm bằng chứng cho bài báo cáo, bài tiểu luận của bạn sau này.
Thứ năm, cách ứng xử của bạn trong suốt thời gian tập sự. Trong mọi việc bạn nên cẩn thận từ hành vi đến lời nói. Nơi bạn tập sự, có người nhiệt tình giúp bạn, nhưng cũng có người muốn lợi dụng công sức, thậm chí hại bạn.
Thứ sáu, không nên mánh khóe để kiếm tiền nơi bạn tập sự. Mọi việc bạn phải thông qua người đứng đầu tổ chức hoặc luật sư hướng dẫn của bạn nếu họ đồng ý thì bạn làm, không đồng ý thì đành chấp nhận bỏ qua cơ hội kiếm tiền hoặc họ đồng ý để bạn làm nhưng thù lao bạn không được hưởng thì bạn cũng vui lòng chấp nhận!
Đã quyết định học việc không phải mục đích đi kiếm tiền bạn nên bỏ qua để mình đạt được mục đích của mình. Hơn nữa nơi bạn thực tập có toàn quyền "thử thách" bạn cả về trình độ chuyên môn, đạo đức, tư cách... nói chung là thử thách cả con người bạn. Tôi nghĩ bạn nên đợi đến khi cầm được thẻ luật sư bạn sẽ được  tự do thể hiện năng lực của bạn!
Tôi không thể tưởng tượng hết những gì xảy ra nếu bạn phạm sai lầm này! Ở khía cạnh này tôi chợt nhớ lại câu  nói rất hay " Đối ngoại vô tâm giả, đối nội hữu kỳ tâm!"
Thứ bảy, khi đi thi hết tập sự bạn nhớ đem tài liệu đầy đủ, quan trọng là đã nắm vững kiến thức, các văn bản luật phải sắp xếp sao cho tiện việc tìm kiếm để dẫn chứng khi làm bài. Tuy đề không khó nhưng rất dài và kiến thức tương đối rộng, nếu bạn không tranh thủ sẽ không kịp thời gian giải hết đề. Bạn nên xin giám thị 02 tờ giấy làm bài, mảng dân sự, kinh tế, kỹ năng tư vấn, phần đề bắt buộc bạn làm riêng một tờ, phần nào dễ bạn làm trước, tờ còn lại bạn làm hình sự và phần đề tự chọn. Trước khi vào phòng thi nếu có người nào đến làm thân quen với bạn thì bạn nên dè dặt và tránh đi chỗ khác. Vì họ làm quen sau đó vào phòng thi họ sẽ mượn tài liệu của bạn dù bạn nói thế nào họ cũng không trả. Không có văn bản luật trích dẫn sẽ ảnh hưởng lớn đến bài viết của bạn. Tôi đã bị mượn, mượn nhưng yêu cầu trả họ không trả, thi xong rồi bị lấy luôn!
Riêng phần thi vấn đáp, giám khảo sẽ hỏi bạn về lĩnh vực trong đề tài tiểu luận của bạn nhiều hơn. Ngoài những bộ tiểu luận đã nộp bạn giữ lại 01 bộ để thi vấn đáp.

Trên đây chỉ là một số vấn đề cần thiết trong những gì tôi đã trải qua suốt thời gian tập sự hành nghề luật sư, tôi muốn chia sẻ cùng bạn. Nếu bạn vượt qua giai đoạn này, tôi tin bạn sẽ ngẩng cao đầu khi gặp lại những "người thử thách" bạn. Đừng quên mỉm cười với họ nhé! Một nụ cười không vương niềm thù hận, nụ cười của người chiến thắng! Phần thưởng của bạn nhận được không "rẻ" chút nào đâu! Chỉ có người trong cuộc mới cảm nhận được hết giá trị vĩ đại của sự chiến thắng!

Trong cuộc sống, dù ở điều kiện nào bạn luôn có hai mặt thuận lợi và khó khăn, nguy cơ và thời cơ chúng luôn đan xen nhau. Bạn phải biết tận dụng thuận lợi, thời cơ tạo ra thế và lực mới đẩy lùi khó khăn và nguy cơ. Điều cuối cùng bạn cần đạt được là đảm bảo cho bạn  tiến bền vững và đúng hướng!
Nghề luật sư là nghề cao quý, tuy nhiên để nhận được từ cao quý thì nó cũng đòi hỏi ở bạn rất nhiều. Đạo đức, sự khôn ngoan ngoài kiến thức chuyên môn mà bạn có. Những điều này bạn sẽ được rèn luyện,  gom nhặt và hoàn thiện dần qua quá trình hành nghề luật sư mà tập sự luật sư là bước khởi đầu.

Chúc bạn thành công!

Thứ Năm, 7 tháng 2, 2013

Áp Dụng Luật Phá Sản Vào Thực Tiễn Còn Nhiều Hạn Chế


Xử lý tài sản, vật kiến trúc của doanh nghiệp gắn liền trên đất thuê của Nhà nước.Nhiều doanh nghiệp được thành lập và thuê đất của Nhà nước đầu tư vốn liếng xây dựng trụ sở làm việc, nhà xưởng… để sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, trong hoạt động sản xuất kinh doanh chẳng may gặp rũi ro, đưa đẩy doanh nghiệp lâm vào tình trạng thua lỗ kéo dài, đã có nhiều phương án phục hồi hoạt động kinh doanh, nhưng không khắc phục được và các chủ nợ yêu cầu Tòa án giải quyết tuyên bố doanh nghiệp bị phá sản để thu hồi lại vốn cho vay. Trong thời gian Tòa án đang giải quyết, UBND có thẩm quyền thu hồi lại đất cho doanh nghiệp thuê xây dựng trụ sở làm việc, nhà kho, nhà xưởng phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Chẳng hạn, Công ty Vật tư nông nghiệp tỉnh Quảng Nam (sau đây xin viết tắt là VTNN) là doanh nghiệp nhà nước, hoạt động kinh doanh những mặt hàng phân bón, thuốc trừ sâu phục vụ nông nghiệp cho các địa phương trong tỉnh, nhưng việc kinh doanh của doanh nghiệp bị thua lỗ kéo dài và mất khả năng thanh toán nợ đến hạn cho các chủ nợ với số tiền trên 25 tỷ đồng và trên 258 ngàn USD. Cuối năm 2005, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam mở thủ tục phá sản theo yêu cầu của các chủ nợ và Tổ quản lý, thanh lý tài sản kiểm kê, định giá tài sản với tổng số tiền vỏn vẹn trên 2,8 tỷ đồng. Đến đầu năm 2008, UBND tỉnh Quảng Nam ban hành quyết định thu hồi lại 648m2 đất của Công ty VTNN thuê xây dựng nhà làm việc, đồng thời quyết định phê duyệt giá khởi điểm nhà làm việc, vật kiến trúc trên đất của Công ty VTNN là 875.000.000 đồng và quy định tổ chức, cá nhân trúng đấu giá nhà, vật kiến trúc trên đất được lựa chọn hình thức giao đất nộp tiền sử dụng đất một lần hoặc thuê đất trả tiền thuê hằng năm theo quy định của pháp luật.
Trên thực tế, UBND tỉnh Quảng Nam thu hồi lại đất cho doanh nghiệp thuê để giao cho Trung tâm Quan trắc và phân tích môi trường thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh quản lý, sử dụng làm trụ sở làm việc. Do đó, không có tổ chức, cá nhân nào đấu giá mua tài sản trên đất này để phải tháo dỡ lấy phế liệu! Vì vậy, giá khởi điểm tài sản của Công ty VTNN cũng là giá mua của Sở Tài nguyên & Môi trường tỉnh từ nguồn vốn ngân sách nhà nước địa phương. Trong khi đó, Chi nhánh Ngân hàng thương mại cổ phần ngoại thương tỉnh Quảng Ngãi là chủ nợ chính đã nhiều lần xin mua nhà làm việc, vật kiến trúc gắn liền với quyền sử dụng đất để trừ nợ Công ty VTNN vay 1.138.931.374 đồng và trên 258 ngàn USD (tương đương 5,272 tỷ đồng theo thời giá năm 2008), nhưng vẫn không được UBND tỉnh Quảng Nam chấp nhận. Rõ ràng, Công ty VTNN Quảng Nam và Chi nhánh Ngân hàng thương mại cổ phần ngoại thương tỉnh Quảng Ngãi phải gánh chịu thiệt hại vật chất khá lớn về tài sản hình hành từ vốn vay.
Hoặc, Công ty VTNN Quảng Nam thuê của UBND thành phố Đà Nẵng 13.294m2 đất, xây dựng nhà kho và đặt Văn phòng đại diện tại địa phương này. Sau khi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản thì UBND thành phố Đà Nẵng có Quyết định 5488/QĐ-UBND ngày 13/7/2007 thu hồi lại toàn bộ diện tích đất cho thuê và giao cho Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố lập thủ tục cho Công ty Cổ phần Trường Xuân thuê lại để sản xuất kinh doanh. Đến ngày 15/01/2009, UBND thành phố Đà Nẵng có Quyết định 580/QĐ-UBND phê duyệt giá trị đền bù, hỗ trợ thiệt hại cho Công ty VTNN Quảng Nam 1.497.397.266 đồng và giao cho Công ty Quản lý – Khai thác đất thành phố có trách nhiệm chi trả khoản tiền này cho Công ty VTNN Quảng Nam từ nguồn vốn của Công ty Cổ phần Trường Xuân. Thế nhưng, từ đó đến nay Công ty Cổ phần Trường Xuân không chuyển 1.497.397.266 đồng cho Công ty Quản lý – Khai thác đất thành phố, để Công ty này thực hiện việc chi trả hỗ trợ thiệt hại cho Công ty VTNN Quảng Nam theo quyết định của UBND thành phố Đà Nẵng. Như vậy, tài sản trên đất thuê của Cty VTNN Quảng Nam tại thành phố Đà Nẵng được hình thành từ vốn vay, nhưng doanh nghiệp này không có quyền định đoạt để bán đấu giá tài sản của mình và sáu năm trôi qua, mà công tác giải quyết việc phá sản của Công ty VTNN Quảng Nam vẫn chưa đủ điều kiện để Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam tuyên bố doanh nghiệp bị phá sản.
Trường hợp khác, Công ty Mía đường Quảng Nam được Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn cho thành lập năm 2000 và được Sở Tài nguyên & Môi trường Quảng Nam ký hợp đồng cho thuê 65.180 m2đất với giá 1.087,5 đồng/m2/năm, thời hạn sử dụng 50 năm. Ngoài ra, nội dung đồng còn ghi nhận: “Trường hợp bên thuê đất bị chia tách, sáp nhập, chuyển đổi doanh nghiệp hoặc chuyển nhượng tài sản cho các tổ chức cá nhân khác mà tạo nên pháp nhân mới thì phải lập thủ tục thuê đất trong thời gian còn lại”. Tuy nhiên, trong thời gian sản xuất kinh doanh, Công ty Mía đường Quảng Nam luôn bị thua lỗ kéo dài và mất khả năng thanh toán nợ vay đến hạn của các chủ nợ 295 tỷ đồng và trên 03 triệu USD. Năm 2006, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam mở thủ tục phá sản và Tổ quản lý, thanh lý tài sản kiểm kê, bán đấu giá tài sản là trụ sở làm việc, nhà xưởng, máy móc thiệt bị… hình thành trên đất thuê được 47,680 tỷ đồng. Biên bản bán đấu giá tài sản ngày 25/3/2008 ghi nhận “người trúng đấu giá tài sản được hưởng mọi chính sách của UBND tỉnh Quảng Nam và tiếp tục lập thủ tục thuê đất để sản xuất kinh doanh”. Thế nhưng trước đó, UBND tỉnh Quảng Nam đã có các quyết định thu hồi lại toàn bộ diện tích đất đã cho Công ty Mía đường Quảng Nam thuê, để giao cho UBND xã Quế Cường, huyện Quế Sơn quản lý. Và buộc đơn vị trúng đấu giá tài sản phải tháo dỡ toàn bộ trụ sở làm việc, nhà xưởng, máy móc, thiệt bị hình thành trên đất để giao trả lại đất cho Nhà nước.
Khiếu nại và giải quyết khiếu nại về mua bán tài sản thanh lý. Sau khi thu được tiền bán đấu giá tài sản của Công ty Mía đường Quảng Nam, Tổ quản lý, thanh lý tài sản chưa trừ 2.654.781.794 đồng thuế giá trị gia tăng cho Công ty Cổ phần xây dựng thương mại Cửa Việt, mà vội vã lập phương án phân chia tài sản có bảo đảm cho Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NHNo&PTNT) thành phố Đà Nẵng trên 33,78 tỷ đồng; Chi nhánh Ngân hàng phát triển Quảng Nam trên 10,8 tỷ đồng. Do đó, Công ty Cổ phần xây dựng thương mại Cửa Việt yêu cầu hoàn trả lại thuế giá trị gia tăng trong lô hàng mua đấu giá nêu trên. Tổ Thẩm phán – TAND tỉnh Quảng Nam có Quyết định số 01/2009/QĐ-TTP ngày 09/11/2009 giải quyết: Chấp nhận yêu cầu của Công ty Cổ phần xây dựng thương mại Cửa Việt; buộc Chi nhánh NHNo&PTNT thành phố Đà Nẵng hoàn trả số tiền 909.377.410 đồng; Chi nhánh Ngân hàng phát triển Quảng Nam hoàn trả số tiền 727.651.003 đồng cho Tổ quản lý, thanh lý tài sản Công ty Mía đường Quảng Nam, để hoàn trả thuế giá trị gia tăng cho Công ty Cổ phần xây dựng thương mại Cửa Việt. Tuy nhiên, việc hoàn thuế giá trị gia tăng có nhiều quan điểm khác nhau: Về phía Ngân hàng cho rằng tài sản hình thành từ vốn vay, khi thanh lý bán tài sản đó để thu hồi lại vốn thì không phải chịu thuế giá trị gia tăng. Ngược lại, về phía doanh nghiệp mua đấu giá tài sản bao gồm cả thuế giá trị gia tăng. Do đó, người trúng đấu giá tài sản yêu cầu phải hoàn thuế giá trị gia tăng đã nộp cho Nhà nước. Sự việc mãi dằng co từ cuối năm 2009 đến nay vẫn chưa ngã ngũ, nên Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam chưa thể tuyên bố phá sản đối với Công ty Mía đường Quảng Nam.
Công tác thu hồi nợ đối với doanh nghiệp bị mở thủ tục phá sản. Khi doanh nghiệp được thành lập luôn tạo nhiều mối quan hệ liên doanh, liên kết, hợp đồng mua bán, trao đổi hàng hóa qua lại ở nhiều địa phương trong cả nước. Trong mối quan hệ thương mại, các doanh nghiệp, cá nhân có thể là chủ nợ hoặc con nợ của nhau. Nếu doanh nghiệp, cá nhân là chủ nợ thì họ có quyền và trách nhiệm báo cáo cho Tổ quản lý, thanh lý tài sản biết liệt kê vốn vào danh sách chủ nợ và chờ khi có phương án phân chia tài sản để được nhận lại toàn bộ hoặc một phần tài sản mà doanh nghiệp, cá nhân đã đầu tư vào doanh nghiệp bị lâm vào tình trạng phá sản. Ngược lại, nếu con nợ là doanh nghiệp thì công tác thu hồi nợ gặp nhiều khó khăn, bởi các con nợ thường tìm mọi cách né tránh công nợ phải trả như là Giám đốc Công ty đi công tác xa không biết khi nào về, hoặc doanh nghiệp đang đầu tư vào các dự án lớn, nên chưa tính đến việc thanh toán nợ phải trả, v.v.. Đối với con nợ là cá nhân làm đại lý và chủ yếu là cán bộ, công nhân viên của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản, họ phải tự đi tìm kế sinh nhai ở nhiều địa phương khác nhau và không có địa chỉ rõ ràng, cho nên công tác thu hồi nợ đối với cá nhân lại càng khó khăn và phức tạp hơn, không khác gì đi “mò kim đáy biển”.
Qua công tác kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam giải quyết việc phá sản doanh nghiệp đối với Công ty Mía đường và Công ty Vật tư nông nghiệp Quảng Nam, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam đã có kiến nghị với Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam, phối hợp với Chủ tịch UBND thành phố Đà Nẵng chỉ đạo các đơn vị, tổ chức liên quan thực hiện nghĩa vụ của mình để Tổ Thẩm phán và Tổ quản lý, thanh lý tài sản giải quyết dứt điểm việc phá sản của hai doanh nghiệp này. Đồng thời, qua công tác kiểm sát trong lĩnh vực này, chúng tôi rút ra được những nguyên nhân tồn tại như:
- Sự chồng chéo, thiếu đồng bộ giữa Luật Phá sản với Luật Thi hành án dân sự và các văn bản dưới luật hướng dẫn thi hành như: Luật Phá sản quy định chung cho Thẩm phán có nhiệm vụ, quyền hạn giám sát, tiến hành thủ tục phá sản. Nếu phát hiện có dấu hiệu tội phạm thì cung cấp tài liệu cho Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp để xem xét việc khởi tố về hình sự và vẫn tiến hành thủ tục phá sản theo quy định của Luật này (Điều 8), nhưng thẩm quyền của Thẩm phán giải quyết việc phá sản đến đâu chưa được Luật Phá sản quy định rõ ràng cụ thể. Nhất là các quyết định ngoại lệ trong quá trình giải quyết khiếu nại; áp dụng biện pháp chế tài để thực hiện các quyết định của mình về thủ tục phá sản. Đối với Tổ trưởng Tổ quản lý, thanh lý tài sản được Luật Phá sản quy định chức năng nhiệm vụ và tổ chức thi hành quyết định của Thẩm phán theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự. Trong khi đó, Luật Thi hành án dân sự  không cho phép Thủ trưởng Cơ quan thi án án dân sự ra các quyết định thi hành án đối với các quyết định của Thẩm phán tiến hành thủ tục phá sản, kể cả quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời (Điều 138). Như vậy, Chấp hành viên làm Tổ trưởng Tổ quản lý, thanh lý tài sản đứng cửa giữa đành bó tay, không thể tổ chức thi hành quyết định của Thẩm phán trong phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã.
- Nghị định số 67/2006/NĐ-CP ngày 11/7/2006 của Chính phủ hướng dẫn việc áp dụng Luật Phá sản đối với doanh nghiệp đặc biệt và tổ chức, hoạt động của Tổ quản lý, thanh lý tài sản. Qua đó, Tổ trưởng Tổ quản lý, thanh lý tài sản chỉ có quyền đề nghị Thẩm phán ra các quyết định tuyên bố giao dịch mà doanh nghiệp, hợp tác xã thực hiện vô hiệu; doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản phải thực hiện hoặc không thực hiện những hành vi nhằm bảo toàn tài sản; thu hồi tài sản hay phần chênh lệch giá trị tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã bị áp dụng thủ tục thanh lý tài sản. Tổ trưởng Tổ quản lý, thanh lý tài sản chỉ được phép quyết định áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án theo quy định pháp luật về thi hành án dân sự, nhưng Luật Thi hành án dân sự không cho phép Chấp hành viên ra các quyết định về thi hành án. Do đó, Chấp hành viên làm Tổ trưởng Tổ quản lý, thanh lý tài sản không thể tự mình thực hiện công vụ ngoài phạm vi pháp luật cho phép.
- Trong thực tiễn, cá nhân, doanh nghiệp trước khi vay tiền của các tổ chức tín dụng, đã thế chấp bất động sản là nhà ở, đất ở, máy móc, thiết bị…Khi doanh nghiệp, cá nhân kinh doanh thua lỗ, không trả được nợ cho Ngân hàng và xảy ra tranh chấp phải đệ đơn hầu Tòa giải quyết. Đến lúc này mới thấy nhiều tổ chức tín dụng “lách luật” bằng cách xác định giá trị tài sản thế chấp tăng gấp nhiều lần so với thực tế, để cho khách hàng vay vốn không vượt quá 70% giá trị tài sản thế chấp, cho nên việc kê biên tài sản bán đấu giá để thi hành án thu hồi nợ cho chủ nợ đã gặp nhiều khó khăn. Thế nhưng, Bộ Luật dân sự năm 2005 (Điều 342) và Luật Kinh doanh bất động sản (Điều 7) quy định “Tài sản thế chấp cũng có thể là tài sản hình thành trong tương lai”, bao gồm: Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất hoặc giấy tờ hợp pháp chứng minh quyền sở hữu, quyền sử dụng theo quy định của pháp luật đối với nhà, công trình đã có sẵn; giấy phép xây dựng hoặc hồ sơ dự án và thiết kế, bản vẽ thi công đã được phê duyệt đối với nhà, công trình xây dựng… Do đó, các doanh nghiệp, cá nhân đem những loại giấy tờ này thế chấp cho các tổ chức tín dụng để vay vốn, nhưng đằng sau việc sử dụng vốn của các doanh nghiệp, cá nhân có đúng mục đích theo giấy tờ thế chấp hay không là một vấn đề nan giải.
- Điều không kém phần quan trọng về công tác kiểm tra giám sát thủ tục giải quyết việc phá sản doanh nghiêp, hợp tác xã, Luật Phá sản quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân còn mang tính chung chung như: “Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong quá trình tiến hành thủ tục phá sản theo quy định của Luật này và Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân (Điều 12). Theo đó, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp chỉ có quyền kháng nghị đối với hai loại quyết định là quyết định mở thủ tục thanh lý tài sản (Điều 83) và quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã bị phá sản (Điều 91), nhưng Luật không quy định Tổ Thẩm phán hoặc Tổ quản lý, thanh lý tài sản chuyển hồ sơ việc phá sản cho Viện kiểm sát cùng cấp nghiên cứu, xác định tính hợp pháp về các quyết định của Tổ Thẩm phán ban hành, để đảm bảo cho việc kháng nghị của Viện kiểm sát đúng pháp luật. Hoặc, Luật Phá sản cũng không quy định Viện kiểm sát cùng cấp được quyền tiếp cận, xem xét hồ sơ do Tổ Thẩm phán hoặc Tổ quản lý, thanh lý tài sản xác lập như: Việc xác định công nợ của các chủ nợ, con nợ; kiểm kê, định giá, bán đấu giá tài sản; lập phương án phân chia tài sản, thanh toán cho các chủ nợ có vô tư khách quan hay không? Và điều quan trọng là giám sát việc lập hồ sơ miễn, giảm để xóa nợ cho con nợ không có điều kiện thi hành án có đúng đối tượng thuộc diện chính sách hay không? Viện kiểm sát nhân dân chỉ xem xét các quyết định về thủ tục phá sản của Tổ Thẩm phán gửi đến (Điều 29 LPS), thì không thể nắm vững nguyên nhân, điều kiện vi phạm pháp luật và tiến độ giải quyết việc phá sản để kháng nghị hoặc kiến nghị khắc phục, sửa chữa những tồn tại trong việc giải quyết phá sản.
- Thẩm phán và Chấp hành viên được phân công giải quyết việc phá sản chưa có kinh nghiệm, do đó luôn bị động lúng túng nên đã dẫn đến những sai sót nhất định khi áp dụng pháp luật vào thực tiễn. Mặt khác, Thẩm phán và Chấp hành viên ngại vướng trách nhiệm cá nhân, phải bồi thường thiệt hại khi thực hiện các biện pháp giải quyết việc phá sản. Hơn nữa, thành viên trong Tổ quản lý, thanh lý tài sản là những người đại diện cho chủ nợ, đại diện cho doanh nghiệp bị mở thủ tục phá sản thực hiện nhiệm vụ kiêm nhiệm theo sự phân công của người quản lý trực tiếp, nhưng công việc kiêm nhiệm không phải là nhiệm vụ chuyên môn chính của họ, nên sự phối hợp tham gia của những thành viên này thiếu nhiệt tình cùng Tổ quản lý, thanh lý tài sản trong công tác thu hồi giải quyết công nợ. Và suy cho cùng, hậu quả kinh doanh thua lỗ dẫn đến phá sản không phải bản thân của những người đại diện gây ra, mà do nhiều nguyên nhân “tế nhị” trong hoạt động sản xuất kinh doanh của chủ doanh nghiệp đẻ ra.
- Ngoài ra, Kinh phí hoạt động của Tổ quản lý, thanh lý tài sản chủ yếu sử dụng từ nguồn kinh phí của cơ quan thi hành án dân sự, nhưng công tác thu hồi nợ của con nợ quá nhiều và nằm rải rác ở nhiều tỉnh, thành khác nhau, do đó nguồn kinh phí của cơ quan thi hành án dân sự không thể đáp ứng yêu cầu phục vụ cho Tổ quản lý, thanh lý tài sản. Và chế độ thù lao cho những người làm công tác này quá khiêm tốn, cho nên công tác đi thu hồi nợ còn nhiều hạn chế nhất định.
Thiết nghĩ, Quốc hội cần quan tâm sửa đổi, bổ sung Luật Phá sản năm 2004, nhằm khắc phục sự chồng chéo, bất cập giữa các văn bản pháp luật, tạo sự đồng bộ giữa các quy định của Luật Phá sản, Luật Thi hành án dân sự và những văn bản pháp luật khác liên quan đến lĩnh vực phá sản. Có như vậy mới tạo điều kiện cho các ngành, tổ chức, cá nhân phối hợp giải quyết tốt việc phá sản của các doanh nghiệp, hợp tác xã.

Thứ Ba, 1 tháng 1, 2013

Sinh Nhật Tuổi Ba Mươi

Hôm nay, sinh nhật thứ 29 của cô gái "Từ trên trời rơi xuống-Mai Ca", gọi cô như thế vì mọi người trong văn phòng thường được nghe những câu hỏi thật ngớ ngẩn của cô. Ngồi lặng thinh nhìn những ngôi sao lấp lánh trong bóng đêm, cô suy nghĩ kể từ ngày mai, bước sang ngưỡng tuổi bắt đầu từ con số “3”. Cảm giác thật khôn tả. Ba mươi năm, cuộc đời vèo qua như gió thoảng. Thế là Mai Ca đến thế gian này đã ba mươi năm rồi.

Ba mươi năm, cô đã làm được gì ở trần gian này? Nhìn lại quãng đường đã qua, hiện tại cô đã được gì và mất gì? Dường như mất nhiều hơn là được, nên cô thấy buồn. Vì cô đã cố gắng nhiều lắm nhưng chẳng đem lại là bao, chỉ một chút ít niềm vui bé nhỏ cho vài cuộc đời bất hạnh thôi. Chẳng ai biết ước mơ, hoài bão của cô là gì, chỉ biết rằng cô hay suy nghĩ về những cảnh đời khốn cùng khi nhìn thấy họ trong cuộc sống đời thường. Dường như cô khao khát làm một điều gì đó cho họ, để xoa dịu nỗi đau mà họ như bị đày đọa trần ai ở cuộc sống này.

Cô cười thầm khi nghe các nữ đồng nghiệp than thở, "Có lẽ là già mất rồi. Người ta có thể kéo dài tuổi thọ chứ làm sao kéo dài được những năm tháng thanh xuân, lại càng day dứt nhiều hơn mỗi khi nhìn ngắm những cô bé trẻ trung đang tung tăng dạo phố."
Cô tự hỏi tại sao những năm tháng của đời người, con người lại bị cuốn vào vòng xoáy lốc với đủ thứ lo toan vật chất. Tới một chừng nào đó, dẫu vật chất có thể là chưa đủ, nhưng hình như, không ít người bắt đầu ngán ngẩm nhận ra sự vô nghĩa lý của rất nhiều điều mà trước đây, khi còn trẻ, họ cứ tưởng là đích đến của cuộc đời. Rằng họ đã có rất nhiều hoặc có một ước mơ, một hoài bão lớn, một sự thay đổi, họ đã mải miết thực hiện nhưng không hiểu vì sao khi nhìn lại thì ước mơ hoài bão của mình đã chết từ lâu. Ôi có lẽ, những nhu cầu thiết yếu hằng ngày và hàng vạn lý do chính đáng khác đã làm cho ước mơ, hoài bão ấy tan biến!
...... Rồi nghĩ về con người........ cô cũng lại  buồn!
Cô đã từng nhìn thấy đôi vợ chồng trẻ bán chính đứa con ruột mới sinh khoảng 2 tháng tuổi cho một người phụ nữ để nhận số tiền 5 triệu đồng. Khi trao con cho người phụ nữ, người cha và người mẹ ôm hôn đứa bé này thật thắm thiết. Sau phút bàng hoàng, cô lại tự hỏi, tại sao con người cứ phải giả dối với nhau, giả dối ngay cả với đứa con mới đẻ của mình, yêu con thì sống chết với con. Sao lại bán con, bỏ con!??? Người ta sẽ đưa con mình đi đâu, đời con mình về đâu, mình không thương con mình thì hỏi ai thực sự yêu thương con mình đây??? Ôi, những nụ hôn đê hèn, giả tạo!!! Chẳng có lý lẽ nào biện minh cho hành vi tàn nhẫn này! Ngay chính pháp luật thường được cho là vô tình mà đối với kẻ phạm tội mà họ còn có ngày giảm án, miễn hình phạt, ngày đại xá, thì cớ gì ngay với đứa con là xương máu của mình, được gọi là đấng sinh thành lại nhẫn tâm cho chúng  lãnh một bản án chung thân ngay từ lúc chúng sinh ra không bao giờ được giảm án, sống ngày nào là đau khổ ngày ấy như thân phận của kẻ nô lệ, sống mà như chết, cả cuộc đời vất vả chỉ đổi lại được miếng ăn. Và càng tàn nhẫn hơn khi mình là người quyết định cho chúng được có mặt trên đời này.
........
Cô tự thấy cô đúng là người trời bị rơi xuống đất thật. Đến giờ cô mới nhận ra rằng, trên trần gian này rất phong phú loại người, cũng như phong phú các loài hoa, có hoa rất đẹp, có hoa rất thơm, có hoa bình thường, có hoa không đẹp lại có cả loài hoa rất không đẹp và không thơm nữa nhưng tất cả đều được gọi là hoa!
Từ nhiều loại người ấy, làm nảy sinh biết bao nhiêu chuyện trên đời này. Có những chuyện cô không cần phải hiểu, cô cũng không tài nào hiểu nhưng buộc cô phải biết. Biết để lựa chọn, biết để tránh xa và biết để tồn tại!

Bước sang ngưởng tuổi 30, sự nghiệp, hoài bão, một sự thay đổi tốt đẹp đang chờ phía trước.Ôi có bao lần cái hoài bão mà cô quyết tâm thực hiện đến cùng dường như muốn sụp đổ, đã có những lúc cô cảm thấy chùn chân, không muốn bước nữa. Cô cảm nhận như sức của cô không đủ để chống đỡ, để đấu tranh trong một mặt trận vô biên này. Ôi, nếu bỏ cuộc cả là một thảm họa! Đã bao lần cô vội xua đi cái ý nghĩ điên rồ ấy. Mỗi lần như thế, cô mỉm cười tự an ủi mình bằng một ly kem và thì thầm  bản  Samba mambo quen thuộc để lấy lại tinh thần và tiếp tục hành trình lội ngược dòng. Mong rằng qua tuổi mới cô vẫn đứng vững và mạnh mẽ hơn, đi hết con đường cam go này để hoài bão, ước mơ của cô trở thành hiện thực.  ^__^

Thứ Sáu, 2 tháng 11, 2012

Ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam Ung Dung Trong Thời Khủng Hoảng?


Chiêu kiếm lợi khủng khiếp của ngân hàng ngoại tại Việt Nam
( Nguồn gốc: TBKTSG//Theo VietnamNet)

Các ngân hàng ngoại kiếm lãi gấp hơn 8 lần so với những ngân hàng nội  phần nhiều là nhờ chiêu thức mua bán ngoại tệ lòng vòng, lách luật.

Gần đây những chiếc máy rút tiền tự động ATM của các ngân hàng ngoại như ANZ, HSBC xuất hiện ngày càng nhiều trong khu vực trung tâm TPHCM. Không giống như trước, máy ATM của ngân hàng ngoại chỉ được đặt ở cạnh hội sở chính, bây giờ họ có thể đặt ở nhiều nơi.

Cùng với việc mở rộng mạng lưới, các ngân hàng 100% vốn nước ngoài dần lấn lướt các đồng nghiệp nội địa, đặc biệt trong tăng trưởng lợi nhuận, họ đang để sau lưng một khoảng cách khá xa với các ngân hàng cổ phần.

Năm ngoái, theo thống kê của chi nhánh Ngân hàng Nhà nước (NHNN) TPHCM, các ngân hàng nước ngoài trên địa bàn có mức tăng trưởng lợi nhuận tới 168,3% so với năm 2008, với con số tuyệt đối 3.517 tỉ đồng (1.311 tỉ đồng năm 2008). Trong khi đó tăng trưởng lợi nhuận của các ngân hàng cổ phần chỉ có 20,3%, từ 4.988 tỉ đồng năm 2008 lên 5.999 tỉ đồng năm 2009.

Các ngân hàng cổ phần hối hả cho vay, hối hả nâng lãi suất huy động để cạnh tranh lẫn nhau và hối hả phát triển tín dụng. So với cuối năm 2008, năm vừa qua tăng trưởng tín dụng của khối cổ phần nhảy lên 59,9%, mức tăng mạnh nhất trong số các ngân hàng. Còn các ngân hàng nước ngoài vẫn “bình chân như vại” trong mảng tín dụng. Họ dường như không quan tâm lắm đến nâng dư nợ cho vay. Kết quả là tăng trưởng tín dụng của họ năm ngoái âm - 0,66%.
Vậy điều gì đã tạo nên sự bứt phá lợi nhuận của ngân hàng nước ngoài? Ở một ngân hàng nước ngoài lớn, trong cơ cấu lợi nhuận 40% là kinh doanh ngoại hối và trái phiếu; thu phí thanh toán xuất nhập khẩu và các phí khác của khách hàng doanh nghiệp chiếm 20%; cho vay tiêu dùng cá nhân cộng dịch vụ 20%, dịch vụ khác chiếm tỷ trọng còn lại. Ở một số ngân hàng nước ngoài khác, lợi nhuận từ kinh doanh ngoại tệ và ngân quỹ cũng chiếm 40% lợi nhuận.

Rõ ràng, dịch vụ ngoại hối và phí mới là nguồn lợi nhuận chính của ngân hàng nước ngoài. Khi mà ngân hàng nội địa bị ràng buộc bởi hàng loạt các quy định hành chính liên quan đến kinh doanh ngoại tệ, không thể lách luật, thì ngân hàng nước ngoài tỏ ra linh hoạt.

Suốt một thời gian dài họ mua bán đô la Mỹ với doanh nghiệp thông qua một ngoại tệ thứ ba để đạt được tỷ giá mong muốn và khi NHNN cấm nghiệp vụ này, họ vẫn sử dụng ngoại tệ thứ ba thông qua một ngân hàng thứ ba.

Thí dụ doanh nghiệp XYZ muốn mua đô la Mỹ của họ, thì đầu tiên doanh nghiệp đó phải mua euro của ngân hàng nội địa XYZ với một tỷ giá thỏa thuận. Họ bán euro cho ngân hàng XYZ để XYZ bán cho doanh nghiệp. Có euro rồi, doanh nghiệp bán lại cho họ cũng theo giá thỏa thuận vào ngày hôm sau, làm sao tương ứng với sự chênh lệch của đô la Mỹ (giữa giá niêm yết của ngân hàng và giá thị trường tự do) mà họ bán cho doanh nghiệp. Trên hợp đồng, giá mua bán đô la vẫn tuân thủ quy định của NHNN, nhưng trên thực tế, sau một sự lòng vòng, giá thực mua - bán đã khác nhiều.

Ngoài ra một số ngân hàng nước ngoài áp dụng phí ngoại tệ linh hoạt (flexible fees) khi doanh nghiệp chuyển khoản ra nước ngoài, mở L/C, bảo lãnh… Với các công ty đa quốc gia, việc đưa ra các mức phí càng thuận lợi hơn, nhất là khi các công ty này nhập khẩu máy móc, nguyên vật liệu, triển khai dự án đầu tư. Không phải ngẫu nhiên, các công ty của nước nào thì thường giao dịch với ngân hàng của nước ấy mở ở Việt Nam. Chẳng hạn các công ty Hàn Quốc giao dịch với ngân hàng Hàn Quốc, Đài Loan với Đài Loan, Pháp với Pháp, Úc với Úc…Ngân hàng trong nước không thể “bắt chước” cách kinh doanh ấy của ngân hàng nước ngoài vì nếu làm vậy có thể bị thanh tra, kiểm tra liên tục.

Tuân thủ đúng quy định, ngân hàng nội khó tìm lợi nhuận từ kinh doanh ngoại hối. Một khi giá mua bán đô la Mỹ chuyển khoản và tiền mặt luôn kịch trần và bằng nhau, các ngân hàng cổ phần chỉ còn cách giới thiệu các doanh nghiệp với nhau để tự thương lượng. Hậu quả là doanh thu kinh doanh ngoại tệ năm 2009 của nhiều ngân hàng cổ phần sụt giảm mạnh, có ngân hàng thậm chí lỗ ở mảng này.

Lợi nhuận từ dịch vụ thấp, ngân hàng cổ phần lao vào tín dụng. Cho vay chỉ cung cấp 20% cơ cấu lợi nhuận của ngân hàng nước ngoài, nhưng lại chiếm đến 75-80% lợi nhuận của ngân hàng nội. Sự lệch pha đó dẫn đến sự lệch pha về chất lượng tín dụng của hai khối. Năm 2009 tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng nước ngoài ở TPHCM chỉ chiếm 0,63% tổng dư nợ. Tuy nhiên với ngân hàng cổ phần, tỷ lệ này là 1,39%, gấp hơn hai lần tỷ lệ của ngân hàng nước ngoài. Còn so với ngân hàng quốc doanh, nơi nợ xấu chiếm 2,02% tổng dư nợ, thì tỷ lệ nợ xấu của nước ngoài chỉ bằng một phần ba.

Cùng một môi trường kinh doanh như nhau, cùng chịu ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế vĩ mô như nhau, vì sao ngân hàng ngoại lãi nhiều, ngân hàng nội lãi ít? Phải chăng sự khác nhau về tốc độ tăng trưởng lợi nhuận ấy chỉ thuần túy do ngân hàng nước ngoài nhiều kinh nghiệm, công nghệ cao hay đằng sau đó còn là sự quản lý ở mức độ khác nhau đối với tổ chức tín dụng nội và ngoại của NHNN?


Tại sao ngân hàng nước ngoài ít gặp khó khăn thanh khoản?
(Theo VnEconomy)

Sự khác biệt đầu tiên nằm ở chính sách khách hàng của các ngân hàng Việt Nam và ngân hàng nước ngoài...

Từ đầu năm 2008, khi những dấu hiệu khó khăn của nền kinh tế bắt đầu xuất hiện như lạm phát tăng cao, thị trường chứng khoán và bất động sản đi xuống, nhiều ngân hàng thương mại cổ phần của Việt Nam rơi vào khó khăn về mặt thanh khoản.

Nếu không có sự hỗ trợ của Ngân hàng Nhà nước thì các ngân hàng này còn có thể rơi vào tình trạng xấu hơn. Điều đáng nói là tình trạng này chủ yếu xảy ra đối với các ngân hàng trong nước, đặc biệt là ngân hàng thương mại cổ phần mới thành lập, trong khi các ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam hầu như không bị tác động bởi sự khó khăn này.

Trước hết, hệ thống ngân hàng, chủ yếu là ngân hàng thương mại cổ phần, đã đầu tư quá nhiều vào chứng khoán và bất động sản - hai lĩnh vực được coi là nhạy cảm nhất trước các biến động của nền kinh tế. Hai thị trường này gần như mất tính thanh khoản kể từ đầu năm 2008, vì vậy ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của các khách hàng.

Thứ hai, việc thắt chặt chính sách tiền tệ và chính sách tài khoá từ đầu năm làm giảm đáng kể lượng cung tiền trong nền kinh tế, trong khi nhu cầu về vốn cho các dự án, phương án sản xuất kinh doanh đã được duyệt từ trước, vẫn đang rất lớn. Thứ ba, việc có nhiều ngân hàng ra đời trong thời gian gần đây làm cho nhu cầu về vốn tăng cao, trong lúc trình độ và kinh nghiệm kinh doanh ngân hàng còn yếu, cộng với nguồn vốn huy động từ dân cư và các tổ chức ít, đành phải vay mượn từ thị trường liên ngân hàng (inter-bank).

Lãi suất trên thị trường này có lúc lên trên 40%/năm là dẫn chứng cho tình trạng này. Nguyên nhân thứ tư là từ đầu năm 2008 đến nay, nhiều ngân hàng thương mại cổ phần đã được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận về mặt nguyên tắc, phải đặt một lượng tiền bằng vốn điều lệ vào Ngân hàng Nhà nước nhưng cho đến nay mới chỉ có hai ngân hàng được cấp phép thành lập và đi vào hoạt động.

Điều này có nghĩa là một lượng tiền lớn đã được rút ra khỏi nền kinh tế. Một lý do khác là việc điều chuyển khoảng 52.000 tỷ đồng của ngân sách nhà nước tại các ngân hàng thương mại quốc doanh về Ngân hàng Nhà nước cũng góp phần làm cho tình hình thêm khó khăn. Tất cả các nguyên nhân nói trên đều dẫn đến tình trạng căng thẳng về mặt thanh khoản của các ngân hàng thương mại trong thời gian qua.

Hậu quả của tình trạng này có thể rất lâu dài, khi mà các doanh nghiệp gặp khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh, chi phí vốn vay cao, khả năng trả nợ của doanh nghiệp yếu đi, nợ xấu gia tăng. Trong hoàn cảnh các ngân hàng thương mại cổ phần phải “chạy ăn từng bữa” như vậy thì các chi nhánh ngân hàng nước ngoài vẫn khá "ung dung", và thậm chí còn có vốn để cho vay trên thị trường liên ngân hàng với lãi suất cao.

Sự khác biệt đầu tiên, theo người viết, nằm ở chính sách khách hàng của các ngân hàng Việt Nam và ngân hàng nước ngoài. Để có thanh khoản tốt và nguồn vốn bền vững thì các ngân hàng trước hết phải dựa vào nguồn vốn huy động từ dân cư và các tổ chức kinh tế, đặc biệt là các khách hàng có dòng lưu chuyển tiền (cash flow) lớn như xăng dầu, điện, thương mại, … thay vì dựa vào nguồn vốn thị trường liên ngân hàng.

Vì vậy, chính sách khách hàng phải hướng về phát triển nguồn vốn. Từ trước tới nay, đối với các ngân hàng trong nước, chính sách ưu đãi thường dành cho các khách hàng có dư nợ tín dụng cao và vay trả thường xuyên. Xét cho cùng, chiến lược này không sai, vì đối với một nền kinh tế đang phát triển nhanh, nhu cầu về vốn lớn như nước ta thì tín dụng luôn là mảnh đất màu mỡ để các ngân hàng “quảng canh, thâm canh”.

Nhưng khi say sưa mở rộng đối tượng cho vay, đơn giản hoá các thủ tục cho vay, các ngân hàng trong nước đôi lúc quên mất rằng rủi ro tín dụng (credit risk) và rủi ro thị trường (market risk) là rất lớn, và luôn tiềm ẩn sau các hồ sơ vay vốn đẹp đẽ. Cuộc khủng hoảng tín dụng nhà đất (subprime crisis) ở Mỹ, bong bóng bất động sản và chứng khoán ở nước ta từ đầu năm đến nay là những ví dụ tiêu biểu cho các rủi ro này.

Ngược lại, đối với các ngân hàng nước ngoài, phát triển nguồn vốn, chứ không phải tín dụng, mới là chính sách được ưu tiên hàng đầu của họ. Các ngân hàng nước ngoài luôn huy động được một lượng vốn nhàn rỗi rất lớn với chi phí thấp từ khách hàng của họ. Điều này giúp họ có khả năng đáp ứng tốt nhu cầu giải ngân cho chính khách hàng của họ.

Ngoài ra, điều này cũng giúp họ có vốn để cung cấp cho thị trường liên ngân hàng với lãi suất rất cao như thời gian qua. Chính sách này có thể không mang lại lợi nhuận lớn như các ngân hàng thương mại cổ phần, nhưng nó luôn bảo đảm sự phát triển ổn định và thoả mãn được nhu cầu vay vốn của khách hàng.

Để có nguồn vốn lớn và ổn định, các ngân hàng nước ngoài đã xây dựng cho mình một chính sách phát triển hợp lý trên cơ sở cân đối giữa dư nợ và nguồn vốn theo những tiêu chuẩn quốc tế. Bên cạnh đó, họ xây dựng một đội ngũ nhân viên giỏi về hoạt động maketing và thoả mãn nhu cầu của khách hàng. Những nhân viên này luôn chủ động liên hệ với khách hàng để biết được kế hoạch kinh doanh sắp tới của khách hàng như kế hoạch vay vốn, trả nợ, thanh toán tiền hàng, mua bán ngoại tệ.

Điều này đã giúp ngân hàng chủ động về mặt nguồn vốn trước khi giao dịch xảy ra, tránh được tình trạng “nước đến chân mới nhảy”. Các nhân viên này cũng được tiếp cận nhiều nguồn thông tin, giúp họ có khả năng dự báo được xu hướng thị trường. Một yếu tố nữa giúp các ngân hàng nước ngoài giảm được rủi ro thanh khoản là nợ quá hạn, nợ xấu của họ thường rất thấp so với các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam, các khoản nợ thường được thanh toán đúng hạn. Có được điều đó là do các khoản vay của họ thường được lựa chọn kỹ càng, được quyết định trên cơ sở các tiêu chí của thị trường, và ít khi bị chi phối bởi các ý muốn chủ quan của cán bộ tín dụng.

Các ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam vẫn có lãi
(Theo Anh Quân // Vietnam+)

Theo Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Giàu, mặc dù gặp nhiều khó khăn, thời gian qua, hoạt động kinh doanh của các chi nhánh ngân hàng nước ngoài và ngân hàng 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam vẫn đạt kết quả tốt với mức thu nhập trước thuế đạt 2.612 tỷ đồng.

Nguồn vốn huy động và dư nợ tín dụng tăng 17,8% và 10,8%; tổng tài sản có tăng 14% so với cuối năm 2008.

Hoạt động của các ngân hàng liên doanh tăng trưởng khá ổn định, thu nhập trước thuế đạt 477 tỷ VND; huy động vốn tăng 18,2%, dư nợ tín dụng tăng 34,3%, tổng tài sản có tăng 18,3% so với cuối năm 2008.

Các tổ chức tín dụng phi ngân hàng cũng có mức huy động động vốn trong 10 tháng đầu năm tăng 17,5%, dư nợ tín dụng tăng 41,8%, tổng tài sản có tăng 40,5% so với cuối năm 2008.

Phát biểu tại buổi gặp mặt thân mật với đại diện các tổ chức tín dụng nước ngoài đang làm ăn tại Việt Nam ngày 15/12 vừa qua, Thống đốc Nguyễn Văn Giàu nhấn mạnh: Các tổ chức tín dụng nước ngoài đã làm tốt vai trò cầu nối cho các nhà đầu tư nước ngoài đến với thị trường và các doanh nghiệp trong nước.

Bên cạnh đó, các tổ chức này đều hoạt động an toàn, hiệu quả, tuân thủ các quy định về đảm bảo các tỷ lệ an toàn hoạt động và trích lập dự phòng rủi ro.

Theo thống kê của Ngân hàng Nhà nước, hiện nay, khối các tổ chức tín dụng nước ngoài tại Việt Nam bao gồm 45 chi nhánh của 33 ngân hàng nước ngoài, 05 ngân hàng liên doanh với hơn 20 chi nhánh phụ thuộc; 05 ngân hàng 100% vốn nước ngoài; 08 tổ chức tín dụng phi ngân hàng có vốn đầu tư nước ngoài và 56 văn phòng đại diện./.
Năm 2009: Năm thuận lợi của các ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam

(Theo Xuân Thanh // chinhphu)
Dẫu năm 2009 đầy khó khăn đối với ngành tài chính ngân hàng, các tổ chức tín dụng nước ngoài tại Việt Nam vẫn hoạt động an toàn, hiệu quả và làm tốt vai trò cầu nối cho các nhà đầu tư nước ngoài đến với thị trường và doanh nghiệp Việt Nam.

Kể từ khi Việt Nam mở cửa trong lĩnh vực ngân hàng đến nay, các ngân hàng nước ngoài hoạt động tại Việt Nam luôn là một bộ phận quan trọng trong hệ thống ngân hàng Việt Nam. Các ngân hàng nước ngoài có mặt tại thị trường Việt Nam ngay từ đầu những năm 1990, sau khi hệ thống ngân hàng Việt Nam được phân thành hai cấp, với hai loại hình: Chi nhánh ngân hàng nước ngoài và ngân hàng liên doanh.

Tuy nhiên, Luật Các tổ chức tín dụng sửa đổi năm 2004 đã cho phép thêm một hình thức hiện diện thương mại mới, đó là ngân hàng 100% vốn nước ngoài. Sự xuất hiện thêm loại hình ngân hàng mới này đã làm tăng tính hấp dẫn và phong phú cho thị trường tài chính Việt Nam, nhưng cũng thêm một thách thức đối với các ngân hàng thương mại trong nước.
Tính đến nay, có 45 chi nhánh ngân hàng nước ngoài (NHNNg) được cấp giấy phép hoạt động tại Việt Nam, trong đó có một số ngân hàng nước ngoài có 2 chi nhánh độc lập, 5 ngân hàng liên doanh với hơn 20 chi nhánh phụ thuộc.
Ngoài ra, thực hiện các cam kết với WTO, Ngân hàng Nhà nước đã cấp giấy phép thành lập và hoạt động cho 5 ngân hàng 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam, đó là Ngân hàng HSBC, Standard Chartered, ANZ, Shinhan và Hong Leong. Hầu hết, các ngân hàng nước ngoài đều mở chi nhánh tại hai thành phố lớn là Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh.
Bên cạnh đó, còn có trên 50 văn phòng đại diện của các tổ chức tín dụng (TCTD). Nhìn chung, các ngân hàng nước ngoài và văn phòng đại diện NHNNg đang hoạt động tại Việt Nam đóng vai trò là cầu nối thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam.
Trong năm 2009, cũng như các ngân hàng mẹ ở nước ngoài, hoạt động kinh doanh của các tổ chức tín dụng nước ngoài tại Việt Nam tiếp tục chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu. Tuy nhiên, các TCTD nước ngoài tại Việt Nam vẫn hoạt động an toàn, hiệu quả và làm tốt vai trò cầu nối cho các nhà đầu tư nước ngoài đến với thị trường và doanh nghiệp Việt Nam.
Đến cuối tháng 10/2009, nguồn vốn huy động của các TCTD nước ngoài tại Việt Nam tăng 17,8%, tổng dư nợ tín dụng tăng 14%, tổng tài sản có tăng 14,9% so với cuối năm 2008; tỷ lệ nợ xấu chiếm dưới 1%  trong tổng dư nợ. Về cơ bản, các TCTD nước ngoài luôn đảm bảo các tỷ lệ an toàn hoạt động và trích lập dự phòng rủi ro đúng quy định, có ý thức tuân thủ pháp luật Việt Nam.
Hầu hết các TCTD nước  ngoài  đều hoạt động có lãi (chênh lệch thu chi lũy kế của các ngân hàng nước ngoài đến cuối tháng 10/2009 đạt 2.947,5 tỷ đồng). Do hoạt động của các chi nhánh NHNNg thuần tuý là vì mục tiêu lợi nhuận, không phải thực hiện việc cho vay chính sách nên nợ quá hạn rất thấp, dư nợ tăng trưởng lành mạnh. Bên cạnh đó, các chi nhánh NHNNg còn được ngân hàng mẹ hỗ trợ nhiều mặt nên càng có điều kiện để mở rộng cho vay
Chi nhánh ngân hàng nước ngoài tăng trưởng 2 con số 
Trong năm 2009, hoạt động kinh doanh của một số chi nhánh NHNNg cũng gặp khó khăn do ảnh hưởng tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu. Tuy nhiên, thu nhập trước thuế của các ngân hàng này vẫn đạt 2.612 tỷ VND; nguồn vốn huy động và dư nợ tín dụng tăng trưởng khá (tăng 17,8% và 10,8% so với cuối năm 2008); tỷ lệ nợ xấu chiếm 0,6% tổng dư nợ, tăng so với tỷ lệ của cuối năm 2008 (0,47%), nhưng vẫn ở mức thấp so với các nhóm ngân hàng khác; tổng tài sản có tăng 14% so với cuối năm 2008.
Về dịch vụ thanh toán, các chi nhánh NHNNg thường đến từ những nước phát triển, nơi mà hệ thống ngân hàng tài chính cũng đạt đến trình độ phát triển tương đối cao nên hoạt động của các chi nhánh này tại Việt Nam cũng được thừa hưởng những ưu thế đó. Điều này được thể hiện rõ qua các loại hình dịch vụ cung cấp cho khách hàng, chất lượng dịch vụ cũng như thái độ phục vụ khách hàng. Các chi nhánh NHNNg thường tiên phong trong việc áp dụng công nghệ hiện đại, giới thiệu sản phẩm dịch vụ mới. Do vậy, có thể nói các chi nhánh NHNNg thường chiếm ưu thế trong các dịch vụ thanh toán và hoạt động phi tín dụng.
 Về khả năng sinh lợi của các chi nhánh NHNNg, nhìn chung, cao hơn so với các ngân hàng trong nước do các ngân hàng này sử dụng vốn được cấp và vốn vay tương đối hiệu quả, mức rủi ro thấp. Bên cạnh đó, các ngân hàng này còn có nguồn thu đáng kể từ các hoạt động phi tín dụng, mảng hoạt động còn yếu của các ngân hàng Việt Nam hiện nay.
Cầu nối hút vốn đầu tư nước ngoài
Về hoạt động của các văn phòng đại diện HNNNg tại Việt Nam, trong thời gian qua, các văn phòng này đã đóng vai trò là cầu nối quan trọng cho hoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, đồng thời cũng hỗ trợ khách hàng của ngân hàng mẹ trong việc nghiên cứu thị trường nhằm cải thiện môi trường đầu tư và thiết lập quan hệ với các chủ thể kinh tế Việt Nam.
Các văn phòng đại diện này cũng có những hỗ trợ đáng kể đối với Ngân hàng Nhà nước, các ngân hàng thương mại và các doanh nghiệp Việt Nam như đào tạo cán bộ, tổ chức hội thảo, cung cấp một số luật nước ngoài liên quan để Ngân hàng Nhà nước tham khảo trong quá trình xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật, giới thiệu các kỹ năng ngân hàng hiện đại, cải thiện quan hệ ngân hàng đại lý với các ngân hàng thương mại Việt Nam. Nhìn chung, các văn phòng đại diện NHNNg đều nghiêm chỉnh  chấp hành pháp luật Việt Nam và các quy định của Ngân hàng Nhà nước.
Đối với các ngân hàng liên doanh, hoạt động của nhóm ngân hàng này tăng trưởng khá ổn định, trong đó nguồn vốn huy động tăng 18,2%, dư nợ tín dụng tăng 34,3% so với cuối năm 2008, tỷ lệ nợ xấu chiếm 1,8% tổng dư nợ, tổng tài sản có tăng 18,3%, thu nhập trước thuế đạt 477 tỷ VND. Mạng lưới hoạt động của các ngân hàng này tập trung chủ yếu ở các tỉnh, thành phố lớn, sản phẩm và dịch vụ tập trung chủ yếu vào các sản phẩm truyền thống.
Có thể nói các NHNNg đang có một môi trường hoạt động tương đối thuận lợi và có nhiều triển vọng, sẽ đầu tư và tham gia nhiều hơn vào thị trường tài chính Việt Nam thông qua các sản phẩm mới, cung cấp dịch vụ ngân hàng hiện đại với những thông lệ và chuẩn mực quốc tế, góp phần xây dựng một nền tài chính - ngân hàng phát triển toàn diện, vững mạnh tại Việt Nam.

Thứ Ba, 2 tháng 10, 2012

Chế Định Ủy Quyền Tham Dự Đại Hội Đồng Cổ Đông Trong Luật Doanh Nghiệp


Một trong những quyền cơ bản của cổ đông khi tham gia vào công ty cổ phần (CTCP) là quyền tham dự, phát biểu và biểu quyết trực tiếp tại cuộc họp Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ). Tuy nhiên, khi ĐHĐCĐ họp thì không phải mọi cổ đông đều có thể tham dự để thực hiện quyền của mình. Trong khi đó, để cuộc họp ĐHĐCĐ có giá trị về mặt pháp lý thì phải có đủ túc số dự họp lẫn biểu quyết1. Nhưng làm sao để có đủ túc số ấy khi cổ đông của công ty đại chúng ở nhiều vùng miền, và thậm chí ở nhiều quốc gia khác nhau?
Luật Doanh nghiệp 2005 đã đưa ra giải pháp cho cổ đông và cho CTCP bằng phương thức tham dự và biểu quyết tại cuộc họp ĐHĐCĐ thông qua người đại diện được ủy quyền2. Theo đó, “cổ đông là cá nhân, người đại diện theo ủy quyền của cổ đông là tổ chức trực tiếp hoặc ủy quyền bằng văn bản cho một người khác dự họp ĐHĐCĐ. Trường hợp cổ đông là tổ chức không có người đại diện theo ủy quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 96 của Luật này thì ủy quyền cho người khác dự họp ĐHĐCĐ3”.
Xác định người đại diện theo ủy quyền dự họp ĐHĐCĐ của cổ đông là tổ chức
Căn cứ theo các quy định của Luật Doanh nghiệp 2005 thì đối với cổ đông là tổ chức, cần phân biệt hai “dạng” đại diện theo ủy quyền. Theo Khoản 3 Điều 96 Luật Doanh nghiệp 2005, cổ đông là tổ chức có quyền cử một hoặc một số người đại diện theo ủy quyền thực hiện các quyền cổ đông của mình theo quy định của pháp luật, bao gồm cả quyền dự họp và biểu quyết tại cuộc họp ĐHĐCĐ; trường hợp có nhiều hơn một người đại diện theo ủy quyền được cử thì phải xác định cụ thể số cổ phần và số phiếu bầu của mỗi người đại diện. Việc cử, chấm dứt hoặc thay đổi người đại diện theo ủy quyền phải được thông báo bằng văn bản đến công ty trong thời hạn sớm nhất, bao gồm các nội dung từ điểm a đến điểm e của Khoản 3 Điều 96. Công ty phải gửi thông báo về việc cử, chấm dứt hoặc thay đổi người đại diện theo ủy quyền đến cơ quan đăng ký kinh doanh trong thời hạn năm ngày làm việc, kể từ ngày nhận được thông báo của cổ đông là tổ chức. Đây là một dạng ủy quyền thường xuyên, và thường được thấy trong các CTCP hóa từ doanh nghiệp nhà nước. Cũng không ít công ty đã nhầm lẫn khi ghi tên những người đại diện theo ủy quyền này vào danh sách cổ đông và xem họ mặc nhiên như là một cổ đông thực sự tương ứng với số cổ phần mà họ đại diện. Việc một tổ chức cử nhiều người đại diện phần vốn của mình tại một công ty nhằm hạn chế được tình trạng “lạm quyền” và hạn chế rủi ro nếu người được ủy quyền thực hiện các công việc không vì lợi ích của tổ chức ủy quyền. Tuy nhiên, nếu những người đại diện theo ủy quyền này không tham dự cuộc họp ĐHĐCĐ thì họ vẫn có thể ủy quyền cho người khác tham dự và biểu quyết tại cuộc họp ĐHĐCĐ, và việc ủy quyền cho “người khác” này có thể hiểu là một dạng ủy quyền “adhoc”, ủy quyền theo vụ việc.
Số lượng người được ủy quyền dự họp ĐHĐCĐ
Một vấn đề được đặt ra là một cổ đông được ủy quyền cho bao nhiêu người dự họp và biểu quyết tại ĐHĐCĐ? Khoản 1 Điều 101 Luật Doanh nghiệp quy định cổ đông là cá nhân, người đại diện theo ủy quyền của cổ đông là tổ chức ủy quyền cho “một người khác” dự họp ĐHĐCĐ. Như vậy, căn cứ theo quy định này thì cổ đông là cá nhân chỉ có thể ủy quyền tối đa cho một người tham dự họp ĐHĐCĐ, còn cổ đông là tổ chức có thể ủy quyền cho số người tham dự họp ĐHĐCĐ tối đa bằng với số người đại diện theo ủy quyền đã được thông báo với công ty theo Khoản 3 Điều 96. Số lượng này có thể là 3, là 5, 7 hoặc nhiều hơn. Tuy nhiên, Nghị định 102/2010/NĐ-CP ngày 01/10/2010 của Chính phủ hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Luật Doanh nghiệp có vẻ đã can thiệp sâu hơn vào quyền của cổ đông là tổ chức khi quy định: “Tổ chức là cổ đông CTCP có sở hữu ít nhất 10% tổng số cổ phần phổ thông có quyền ủy quyền tối đa ba người tham dự họp ĐHĐCĐ4”. Trước đây, Nghị định 139/2007/NĐ-CP ngày 05/9/2007 của Chính phủ hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Luật Doanh nghiệp cũng quy định tương tự nhưng có phần thông thoáng hơn khi cho Công ty tự quy định trong Điều lệ về quyền ủy quyền tham dự họp ĐHĐCĐ của cổ đông là tổ chức: “Nếu Điều lệ công ty không quy định khác thì tổ chức là cổ đông CTCP có sở hữu ít nhất 10% tổng số cổ phần phổ thông có quyền ủy quyền tối đa ba người tham dự họp ĐHĐCĐ5”. Quy định này của Nghị định 102 cũng không được rõ ràng khi không thấy quy định về số lượng người đại diện trong trường hợp cổ đông là tổ chức sở hữu ít hơn 10% tổng số cổ phần phổ thông của công ty. Điều lệ mẫu áp dụng cho các công ty niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán/Trung tâm Giao dịch Chứng khoán (ban hành kèm theo Quyết định số 15/2007/QĐ-BTC ngày 19/3/2007 của Bộ trưởng Bộ Tài chính – sau đây gọi là Điều lệ mẫu) khi quy định vấn đề này cũng không phân định rõ ràng giữa cổ đông là cá nhân và cá đông là tổ chức: “các cổ đông có quyền tham dự ĐHĐCĐ theo luật pháp có thể trực tiếp tham dự hoặc ủy quyền cho đại diện của mình tham dự. Trường hợp có nhiều hơn một người đại diện theo ủy quyền được cử thì phải xác định cụ thể số cổ phần và số phiếu bầu của mỗi người đại diện6”. Việc quy định cổ đông là cá nhân chỉ được ủy quyền cho một người tham dự có thể hiểu xuất phát từ quan điểm “một người không thể mâu thuẫn với chính mình khi thực hiện các giao dịch”, tuy nhiên, bản chất của CTCP là một công ty đối vốn, quyền biểu quyết của các cổ đông cũng dựa trên số lượng cổ phần mà họ sở hữu. Nếu cổ đông là tổ chức có thể hạn chế rủi ro của sự “lạm quyền” bằng cách ủy quyền cho nhiều người khác nhau, thì tại sao lại không cho cổ đông là cá nhân thực hiện quyền tương tự như vậy?
Hình thức ủy quyền
Luật Doanh nghiệp 2005 bắt buộc việc ủy quyền dự họp ĐHĐCĐ phải được lập thành văn bản theo mẫu của công ty và phải có chữ ký của cổ đông là cá nhân và người được ủy quyền (trường hợp người ủy quyền là cổ đông cá nhân), hoặc chữ ký của người đại diện theo ủy quyền của cổ đông là tổ chức, người đại diện theo pháp luật của cổ đông và người được ủy quyền dự họp (trường hợp người ủy quyền là người đại diện theo ủy quyền của cổ đông là tổ chức), hoặc chữ ký của người đại diện theo pháp luật của cổ đông và người được ủy quyền dự họp.
Nội dung ủy quyền
Một vấn đề quan trọng khi ủy quyền là nội dung ủy quyền. Theo đó, người được ủy quyền chỉ được hành động trong phạm vi được ủy quyền. Cổ đông có thể ủy quyền toàn bộ cho người đại diện được quyền quyết định tất cả những vấn đề cần sự biểu quyết của cổ đông, hoặc chỉ thị cho người đại diện phải biểu quyết theo ý mình dựa trên các tài liệu đã được nhận trước khi cuộc họp ĐHĐCĐ khai mạc. Tuy nhiên, văn bản ủy quyền lại phải làm theo mẫu của công ty, trong khi đó hầu như mẫu chung trong Giấy ủy quyền của tất cả các công ty chỉ ghi ngắn gọn nội dung ủy quyền như sau: “Thay mặt cho tôi tham dự và biểu quyết tại ĐHĐCĐ thường niên năm… của CTCP… với tư cách là đại diện cho tất cả số cổ phần mà tôi đang sở hữu”7. Như vậy, mặc nhiên các công ty đã bắt buộc cổ đông phải ủy quyền toàn bộ cho người đại diện và cho người đại diện được quyết định mà không có một chỉ thị cụ thể nào. Giả sử người ủy quyền muốn chỉ thị cho người được ủy quyền biểu quyết một cách cụ thể đối với các vấn đề bằng một văn bản khác thì có thể sẽ bị từ chối vì không được lập theo mẫu của CTCP. Nếu phát sinh tranh chấp giữa người ủy quyền và người được ủy quyền, thì các mẫu giấy ủy quyền này sẽ thể chứng minh người được ủy quyền đã hành động đúng hay không đúng như ý chí của người ủy quyền, nhất là quy định pháp luật Việt Nam hiện nay không bắt buộc người được ủy quyền phải công khai nội dung được ủy quyền biểu quyết, trừ trường hợp tổ chức lưu ký được cổ đông của các công ty niêm yết ủy quyền làm đại diện8.
Người nhận ủy quyền và vấn đề ủy quyền đương nhiên
Một vấn đề nữa cũng được đặt ra là người được ủy quyền có thể là tổ chức hay không? Luật Doanh nghiệp 2005 và Điều lệ mẫu chỉ nói là “người khác” mà không quy định rõ là cá nhân hay tổ chức. Nhưng dựa vào yêu cầu về chữ ký của người ủy quyền và người được ủy quyền trên văn bản ủy quyền, có thể hiểu được rằng người được ủy quyền dự họp ĐHĐCĐ chỉ có thể là cá nhân. Tuy nhiên, Quy chế quản trị công ty áp dụng cho các công ty niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán/Trung tâm Giao dịch Chứng khoán (ban hành kèm theo Quyết định số 12/2007/QĐ-BTC ngày 13/3/2007 của Bộ trưởng Bộ Tài chính – sau đây gọi là Quy chế quản trị công ty niêm yết) đã đi xa hơn một bước khi quy định: “Cổ đông có thể ủy quyền cho Hội đồng quản trị hoặc các tổ chức lưu ký làm đại diện cho mình tại ĐHĐCĐ9”. Theo quy định này thì cổ đông có thể ủy quyền cho một tổ chức đại diện cho mình tham dự và biểu quyết tại cuộc họp ĐHĐCĐ. Trên thực tế cũng có nhiều ý kiến ủng hộ việc ủy quyền cho Trung tâm lưu ký chứng khoán (TTLKCK) thực hiện các quyền của cổ đông tại cuộc họp ĐHĐCĐ10. Nhưng nếu TTLKCK đảm nhận vai trò “được ủy quyền” thì phải xem lại một số vấn đề về mặt lý thuyết như: bên nhận ủy quyền là pháp nhân, trách nhiệm của pháp nhân khi nhận ủy quyền, trách nhiệm của cá nhân trong pháp nhân khi thực hiện hành vi được ủy quyền của pháp nhân, tính độc lập của TTLKCK…
Gần đây, có nhiều ý kiến phản đối về ý tưởng “ủy quyền đương nhiên” cho Hội đồng quản trị khi tổ chức họp ĐHĐCĐ của CTCP, được đưa ra trong Dự thảo Nghị định sửa đổi Nghị định 139/2007/NĐ-CP. Trong Dự thảo lần 3, cơ quan soạn thảo đã đưa ra giải pháp đối với một số vấn đề liên quan đến ĐHĐCĐ:“Nếu Điều lệ công ty không quy định khác hoặc cổ đông có liên quan không có ý kiến khác bằng văn bản, các thành viên độc lập của Hội đồng quản trị đương nhiên là người đại diện theo ủy quyền của tất cả các cổ đông không tham dự họp Đại hội đồng cổ đông”11. Quy định này được đưa ra nhằm gỡ vướng cho các công ty đại chúng trong bối cảnh ngày càng có nhiều công ty đại chúng không tổ chức thành công cuộc họp ĐHĐCĐ trong lần đầu tiên. Tuy nhiên, các ý kiến phản đối cho rằng, quy định như vậy là vi phạm quyền của cổ đông và Bộ luật Dân sự về việc đại diện theo ủy quyền. Việc không tham dự cuộc họp khác hoàn toàn với việc tự nhiên có người đại diện theo ủy quyền. Cổ đông không tham dự họp đại hội cổ đông là từ bỏ quyền thể hiện ý chí của mình về mọi vấn đề cuộc họp nêu ra và phải chấp nhận kết quả quyết định của đại hội cổ đông. Còn có người đại diện không mong muốn thì có thể làm thay đổi kết quả đó. Ngoài ra, việc quy định như dự thảo Nghị định đưa ra còn mâu thuẫn với quy định tại khoản 2, Điều 101 Luật Doanh nghiệp: “Việc uỷ quyền cho người đại diện dự họp ĐHĐCĐ phải lập thành văn bản và phải có chữ ký của cổ đông ủy quyền và người được ủy quyền dự họp”. Quy định này sẽ cho ra một đáp số đồng dạng là, dù cho tỷ lệ tham dự cuộc họp trên thực tế chỉ là một vài phần trăm, nhưng kết quả vẫn luôn đạt con số sát 100%. Như vậy thì quan điểm không chịu hạ xuống 51% mà cứ giữ nguyên tỷ lệ 65% để bảo vệ quyền lợi của các cổ đông nhỏ sẽ trở thành ý tưởng hoàn toàn vô nghĩa12. Chính vì những ý kiến phản đối mạnh mẽ đó mà khi Nghị định 102 chính thức được ban hành thì nội dung về việc ủy quyền đương nhiên dự họp ĐHĐCĐ đã không được đưa vào. Tuy nhiên, các nhà làm luật vẫn không từ bỏ ý định của mình, khi trong Dự thảo Thông tư sửa đổi, bổ sung Quy chế quản trị công ty niêm yết và Điều lệ mẫu lấy ý kiến các thành viên thị trường vào đầu tháng 12/2010, ý tưởng về việc ủy quyền đương nhiên lại một lần nữa được đặt ra: “Trường hợp các công ty niêm yết đã tuân thủ đầy đủ trình tự, thủ tục về triệu tập ĐHĐCĐ theo quy định của pháp luật, cổ đông không tham dự nhưng không có ủy quyền hoặc không đăng ký tham dự và thực hiện bỏ phiếu từ xa thì Hội đồng quản trị có quyền mời tổ chức lưu ký chứng khoán đại diện cho các cổ đông tham dự và bỏ phiếu thay các cổ đông nêu trên”.13 Cũng như Dự thảo thay thế Nghị định 139, Dự thảo Thông tư lần này cũng không nhận được ý kiến đồng tình từ phía những người tiếp nhận vì nội dung trái quy định của Luật Doanh nghiệp và thiếu tính khả thi trong thực tế14.
Kiến nghị
So sánh với pháp luật của các nước có truyền thống luật công ty phát triển, rõ ràng Việt Nam vẫn còn thiếu rất nhiều quy định liên quan đến chế độ ủy quyền tham dự và biểu quyết tại cuộc họp ĐHĐCĐ. Ở Mỹ, hơn 98% số cổ phần được bỏ phiếu bằng việc ủy quyền trước cuộc họp15. Do đó, chế định ủy quyền được quy định rất cụ thể và chặt chẽ trong đạo luật của liên bang (Securities Exchange Act of 1934) nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các cổ đông trong việc thực thi quyền biểu quyết của mình. Ở Mỹ, cơ quan giám sát việc thu thập ủy quyền là Ủy ban Giao dịch Chứng khoán (U.S. Securities and Exchange Commission). Cơ quan này ra luật để kiểm soát cơ chế ủy quyền, bảo đảm cho người ủy quyền nhận được đầy đủ thông tin trước khi ký16.
Luật Doanh nghiệp Việt Nam nên quy định thêm những cơ chế để tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các cổ đông tham dự và biểu quyết thông qua người đại diện. Để làm được việc đó, có thể cho phép áp dụng cả phương thức giao dịch điện tử giữa cổ đông và người đại diện và giữa người đại diện với công ty. Bản thân người đại diện cũng cần được thực hiện việc tham dự và biểu quyết thông qua phương tiện điện tử. Đồng thời với các biện pháp này, luật cũng cần điều chỉnh cụ thể mối quan hệ giữa cổ đông và người đại diện (là điều hiện nay mà luật hoàn toàn bỏ ngỏ) để đảm bảo việc người đại diện lạm dụng ủy quyền đại diện vì lợi ích của chính mình thông qua việc quy định các nội dung bắt buộc cần phải có trong mẫu giấy ủy quyền dự họp và biểu quyết tại cuộc họp ĐHĐCĐ. Ngoài ra, luật cũng cần làm rõ số lượng người được nhận ủy quyền là bao nhiêu, chỉ là cá nhân hay có thể bao gồm tổ chức được nhận ủy quyền. Trong trường hợp luật cho phép ủy quyền cho tổ chức tham dự và biểu quyết tại cuộc họp ĐHĐCĐ thì còn phải xem xét đến trách nhiệm của tổ chức khi nhận ủy quyền, trách nhiệm của cá nhân trong tổ chức khi thực hiện hành vi được ủy quyền của pháp nhân.
Chú thích:
(1) Theo Khoản 1 Điều 102 Luật Doanh nghiệp 2005 thì cuộc họp ĐHĐCĐ lần thứ nhất chỉ được tiến hành khi có số cổ đông dự họp đại diện ít nhất bằng 65% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết và theo Khoản 3 Điều 104 thì quyết định của ĐHĐCĐ được thông qua tại cuộc họp khi được số cổ đông đại diện ít nhất 65% hoặc 75% tổng số phiếu biểu quyết của tất cả cổ đông dự họp chấp thuận.
(2) Khoản 1 Điều 79 Luật Doanh nghiệp 2005.
(3) Khoản 1 Điều 101 Luật Doanh nghiệp 2005.
(4) Điểm b Khoản 1 Điều 22 Nghị định 102/2010/NĐ-CP.
(5) Điểm b Điều 14 Nghị định 139/2007/NĐ-CP.
(6) Khoản 1 Điều 15 Điều lệ mẫu.
(7) Tham khảo mẫu giấy ủy quyền của một số công ty: Tổng Công ty Phân bón và Hóa chất dầu khí – CTCP (Đạm Phú Mỹ): http://dpm.vn/Portals/0/Mau_giay_uy_quyen_du_DH_2010.doc, Tập đoàn Bảo Việt: http://www.baoviet. com. vn/images_upload/assets/GiauyquyenthamduDHDCD2010.pdf; Tổng Công ty CP Bảo Minh: http://www.baominh.com .vn/data/news/2010/4/2925/GIAY%20UY%20QUYEN_GIAY%20DANG%20KY%20THAM%20DU%20-BMI-2010.doc .
(8) Khoản 3 Điều 6 Quy chế quản trị công ty niêm yết.
(9) Khoản 3 Điều 6 Quy chế quản trị công ty niêm yết.
(10) Trần Huỳnh Thanh Nghị (2010), Những vấn đề lý luận và thực tiễn về bảo vệ quyền lợi của cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần theo quy định tại Luật Doanh nghiệp 2005, Kỷ yếu Hội thảo “Bảo vệ cổ đông: Những vấn đề lý luận và thực tiễn trong pháp luật doanh nghiệp Việt Nam”, Khoa Luật Thương mại – Trường ĐH Luật TP. HCM.
(11) Khoản 1 Điều 28 Dự thảo (lần 3) Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định 139/2007/NĐ-CP.
(12) Xem các góp ý cho Dự thảo Nghị định tại http://vibonline.com.vn/vi-VN/Forum/Topic.aspx?ForumID=256.
(13) Xem dự thảo tại: http://www.ssc.gov.vn/portal/page/portal/ubck/1096905?ppage_id=1096905&persid=1095341 & folder id=&item_id=26253547&p_details=1.
(14) Tham khảo: Công văn số 972/2010/CV-SSIHO ngày 10/12/2010 của Công ty CP Chứng khoán Sài Gòn góp ý dự thảo sửa đổi Quy chế quản trị công ty niêm yết và sửa đổi Điều lệ mẫu áp dụng cho công ty niêm yết; Bài viết trên báo Đầu tư Chứng khoán điện tử: http://tinnhanhchungkhoan.vn/RC/N/CFIJEJ/vsd-bo-phieu-thay-co-dong:-co-trai-luat-doanh-nghiep.html; Bản tin cập nhật pháp luật tháng 12/2010 của Công ty luật Allens Arthur Robinson: http://www.vietnamlaws.com/vlu/dec_2010.pdf.
(15) R. Franklin Balotti, Jesse A. Finkelstein and Gregory P. Williams (2008), Meetings of Stockholders, Aspen Publishers, Inc. (download from http://westlaw.com), Chapter 7, section 7.1.
(16) Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Đình Cung (2009), Công ty: Vốn, quản lý và tranh chấp theo Luật Doanh nghiệp 2005, NXB Tri thức, tr. 333.

Thứ Hai, 1 tháng 10, 2012

Đạo Đức, Văn Hóa Nghề Luật Sư


Vấn đề đạo đức, văn hoá nghề nghiệp luật sư, thực trạng và hướng hoàn thiện, tôi đã chọn làm đề tài tốt nghiệp khóa nghiệp vụ luật sư (năm 2008), xin trình bày tóm tắt lại những vấn đề chủ yếu cần quan tâm của nội dung trên trong bài viết này để các bạn tham khảo.  
Nghề luật sư là một nghề xuất hiện lâu đời ( những người đầu tiên có thể tự nhận mình là luật sư có lẽ là những nhà hùng biện ở thành Athens cổ đại Hy Lạp vào thế kỷ thứ 5 trước Công nguyên) và phổ biến ở các nước phương tây, họ có vị trí, vai trò rất quan trọng trong xã hội. Trong xu thế hội nhập, nghề luật sư trong xã hội Việt Nam đang được quan tâm trong những năm gần đây ở nhiều góc độ, khía cạnh khác nhau.
Trước xu hướng toàn cầu hoá, luật sư Việt Nam phải làm gì để có vị thế ngang tầm với luật sư trong khu vực và quốc tế. Bên cạnh sự thông suốt luật pháp quốc gia, thông thạo luật quốc tế, nghĩa là kiến thức pháp luật trong nước và ngoài nước phải vững vàng thì một  yếu tố có ý nghĩa quyết định trong hoạt động nghề nghiệp đó là đạo đức, văn hoá nghề nghiệp của luật sư. Vấn đề này không chỉ có ý nghĩa quan trọng về hình ảnh người luật sư trong đôi mắt cộng đồng xã hội Việt Nam mà còn xây dựng hình ảnh luật sư Việt Nam trong đôi mắt cộng đồng quốc tế. 
1. Đạo đức nghề luật sư
         Nghề luật sư bên cạnh những nghề khác như nghề bác sĩ, nghề kinh doanh hay bất cứ nghề nào theo tôi đều phải có đạo đức của nghề đó. Tuy nhiên nghề luật sư là một trong những nghề đòi hỏi đạo đức nghề nghiệp cao phát xuất từ tính chất đặc thù của nghề nghiêp. Đó là nghề bổ trợ tư pháp, bảo vệ quyền và lơị ích hợp pháp của đương sự đang bị vướng mắc về pháp lý, phần lớn trong họ là những người không am hiểu pháp luật. Nếu họ gặp luật sư không có đạo đức thì có thể họ bị “xoay” bởi luật sư và đương nhiên thiệt hại lẽ ra không có sẽ thuộc về họ. Vậy đạo đức nghề luật sư là gì?
Theo từ điển tiếng việt đạo đức là những phẩm chất tốt đẹp của con người. 
Vậy có thể hiểu, đạo đức nghề luật sư là những phẩm chất tốt đẹp của người làm nghề luật sư.
Đạo đức nghề nghiệp là hình thái đặc biệt về nhận thức của con người về các phạm trù chính-tà, thiện-ác, tốt-xấu, phải-trái, cao thượng-hèn hạ trong ứng xử nghề nghiệp của mình. Nó là một trong những phương thức chủ yếu điều chỉnh hành vi của con người làm nghề đó trong xã hội vời sự trợ giúp của hệ thống các qui phạm hoặc các chuẩn mực của xã hội được thể hiện dưới hình thức thành văn hoặc không thành văn.
Khác với phạm trù đạo đức xã hội nói chung, đạo đức nghề nghiệp luật sư không hoàn toàn dựa trên cái thiện, cái ác, điều xấu, điều tốt mang nghĩa xã hội. Do nghề luât sư là nghề bổ trợ tư pháp nên đạo đức nghề luật sư hình thành và tồn tại trong lĩnh vực hoạt động tư pháp. Vì vậy, nó phải lấy pháp luật làm nền tảng bên cạnh đạo đức xã hội.

2.Văn hóa nghề nghiệp luật sư
        Văn hóa nghề nghiệp đó là cái đẹp được thể hiện qua cách ứng xử của người luật sư.
Cái đẹp này được thể hiện ra bên ngoài thông qua hành vi, cử chỉ, điệu bộ…của người luật sư với cá nhân, tập thể, cơ quan, tổ chức trong quá trình hoạt động nghề nghiệp của mình. Văn hóa nghề nghiệp luật sư xây dựng nên hình ảnh người luật sư, đội ngũ luật sư. Trong văn hóa ấy có cái chung, đăc trưng cho những người làm nghề luật sư. Tuy nhiên, trong cái chung ấy có cái riêng, đăc thù ở mỗi người luât sư. Do họ là những con người cụ thể, có tính cách, tâm lý, ngoại hình khác nhau điều đó khiến cho không luật sư nào hoàn toàn giống luật sư nào.
Ngoài ra văn hóa nghề nghiệp luật sư còn được hiểu là những quan điểm, nhận thức, cách nhìn, thái độ tôn trọng pháp luật nói chung của luật sư và ý thức tự giác tuân thủ các quy định của pháp luật trong quá trình hoạt động nghề nghiệp của mình.
Văn hóa nghề nghiệp ảnh hưởng nhất định đến quan niêm, lập trường , quan điểm, nhận thức xã hội của người luật sư trong hoạt động nghề nghiệp của mình.
Nếu như văn hóa được nhận diện qua cách ứng xử của từng con người, của cộng đồng xã hội trong các quan hệ thực tế thì văn hóa pháp lý nói chung, văn hóa nghề nghiệp luật sư nói riêng được thể hiện trong đời sống pháp lý thong qua quá trình thực hiện các hoạt động pháp luật bằng hành vi pháp lý của luật sư.
Văn hóa nghề ngiệp luật sư được thể hiện qua văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể. Chẳng hạn như ngôn ngữ của luật sư, đây là văn hóa phi vật thể, ngôn ngữ ấy được thể hiện dưới dang văn hóa nói hoặc văn hóa viết. Đây là “vũ khí” không thể thiếu của luật sư trong suốt hoạt động của mình.Cùng với ngôn ngữ là tác phong đây là sự tổng hợp cách thức thể hiện ra bên ngoài của luật sư như giọng nói, trang phục... Do đó luật sư phải sử dụng ngôn ngữ, thể hiện phong cách như thế nào sao cho bộc lộ được sức mạnh, vẻ đẹp nghề nghiệp của mình.

Văn hóa nghề nghiệp luật sư được hình thành qua từng thời kì và nó là một pham trù xã hội nên mang tính phổ biến nghĩa là nó có sự tác động đến những phạm trù khác trong xã hội. Do đó, ở mỗi thời kì nó có sự thay đổi nhât định và ở mỗi quốc gia, văn hóa nghề nghiệp luật sư có nét riêng biệt cho mình.
            Trong mối quan hệ giữa đạo đức và văn hóa nghề nghiệp luât sư, đây là mối quan hệ giữa nội dung và hình thức.Trong đó, đạo đức là nội dung cái bên trong, văn hóa là hình thức, cái biểu hiện ra bên ngoài của đạo đức. Không thể là người có văn hóa khi không có đạo đức, ngược lại không thể có đạo đức nào không được thể hiện ra bên ngoài qua cách ứng xử.

3.Sự cần thiết của đạo đức,văn hóa đối với nghề luật sư
        Khi bàn về đạo đức,văn hóa nghề nghiệp luật sư, có nhiều nhận thức và quan điểm khác nhau. Có người cho rằng: trong xã hội, nghề nào cũng đòi hỏi người làm nghề phải có cái tâm, trách nhiệm nghề của mình trước xã hội. Vậy có cần thiết  phải đăt đạo đức, văn hóa nghề nghiệp luật sư thành vấn đề riêng không? Cũng có người cho rằng: trong nền kinh tế thị trường, mỗi ngành nghề trong xã hội đều mang tính cạnh tranh, cạnh tranh để tồn tại và phát triển. Hoạt động nghề nghiệp luật sư cũng là một nghề như những ngành nghề khác, cũng chịu sự chi phối của qui luật thị trường, nói rõ hơn nó là nghề kinh doanh pháp lý. Nên việc đăt đạo đức, văn hóa nghề nghiệp luật sư thành vấn đề riêng bàn luận là không cần thiết.
            Chung qui lai, tuy có những khía cạnh khác nhau nhưng họ có chung một quan điểm không coi trọng đạo đức, văn hóa nghề nghiệp luật sư mà còn đánh đồng nghề luật sư như mọi nghề khác. 
            Vâng đã là con người , khi làm bất cứ nghề gì đều phải có đạo đức, trách nhiệm đối với nghề mình làm. Tùy thuôc vào tính chất đặc thù của mỗi nghề, đòi hỏi người làm nghề phải có những phẩm chất đạo đức, văn hóa nghề nghiệp khác nhau, không có cái đạo đức chung cho tất cả ngành nghề.
Chẳng hạn đối với nghề giáo viên, người thầy không chỉ dạy cái chữ để chống sự mù chữ mà mục tiêu cao cả của nghề dạy học là dạy cách làm người và trở thành con người có đủ những phẩm chất tốt đẹp, dìu dắt các thế hệ hướng đến cái chân, thiện, mỹ. Như vậy người thầy ấy không những phải có kiền thức chuyên môn vững chắc, mà trong họ phải có cái chân, thiện, mỹ. Cái chân, thiện, mỹ đó được biểu hiện ra bên ngoài qua cách ứng xử của họ trong xã hội, để cho học trò của họ trông thấy và noi theo. Đó là đạo đức, văn hóa của nghề giáo viên.
Nghề chữa bệnh, các thầy thuốc dùng hết khả năng của mình để cứu người đang bị bệnh, giành lấy sự sống cho bệnh nhân, góp phần bảo vệ sức khỏe con người, đem lại hạnh phúc cho cộng đồng. Với mục tiêu cao cả ấy, người thầy thuốc không bao giờ coi trọng đồng tiền hơn sự cứu người, tận tụy chăm sóc bệnh nhân. Chính vì thế đã xây dựng lên hình ảnh đẹp về người thầy thuốc trong xã hội và được tôn vinh là “Lương y như từ mẫu”.
Còn nghề sản xuất, kinh doanh thì sao, họ cung cấp những nhu cầu cho xã hội, tìm lợi nhuận trên khối óc, khả năng tính toán khéo léo của mình không thể có sự gian dối. Đó là đạo đức, văn hóa của những người kinh doanh chân chính.
Người làm nghề luật sư, trong hoạt động nghề nghiệp thể hiên ba tính chất cơ bản.

  Tính chất trợ giúp
Trong đời sống xã hội, do sự tác động của quy luật phát triển, dẫn đến trong xã hội có những người rơi vào vị thế thấp kém so với mặt bằng của xã hội. Chẳng hạn người nghèo, trẻ lang thang, người già yếu neo đơn. Những người ở vị thế thấp kém này khi bị đói xử bất công, trái pháp luật, trái đạo đức xã hội, hơn lúc nào hết họ cần được giúp đỡ, bên vực của người khác để lấy lại sự công bằng  cho họ trong xã hội. Trong đó có vai trò của người luật sư. Chẳng hạn đối với một người đang bị Viện kiểm sát truy cứu trách nhiệm hình sự, họ phải đối mặt với quyền lực nhà nước đại diện cho xã hội buộc tội họ. Không phải ai cũng đủ hiểu biết để tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Sự có mặt của luật sư trong trường hợp này là rất cần thiết. Trước hết tạo sự an tâm cho họ vì đã có chõ dựa tinh thần, tiếp đến tạo sư đối trọng cân bằng giữa họ với cơ quan quyền lực nhà nước. Chính vì thế, pháp luật qui đinh mọi người đều có quyền tự mình bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa, Bộ luật tố tụng hình sự qui định tại Điều 57 “ Người bi TCTNHS về tội theo khung hình phạt  cao nhất là tử hình được qui định trong Bộ luật hình sự hoặc là người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất, tinh thần thì buộc phải có người bào chữa.” Sự trợ giúp của luật sư lúc này hoàn toàn vô tư, không vụ lợi. Ngay từ thời cổ đại, những thế kỉ trước và sau công nguyên, những người dám đứng ra bên vực cho những người yếu thế trong xa hội được mệnh danh là “hiêp sỹ”. Ngày nay, con người được sống trong xã hội văn minh, tiến bộ, dân chủ nhưng không đồng nghĩa xã hội đã hết sự bất công, những con người yếu kém được đối xử bình đẳng, đươc hưởng những quyền , lợi ích như pháp luật đã quy định. Vì thế hoạt động trơ giúp của luật sư đối với những con người này không chỉ là bổn phận mà còn là thước đo lòng nhân ái, đạo đức của người luật sư.
  Tính chất hướng dẫn
         Do tính chất nghề nghiệp, đòi hỏi luật sư không chỉ thông hiểu pháp luật hiện hành, mà còn phải hiểu cả tinh thần, nội dung những qui định của pháp luật trong từng thời điểm của thời gian đã qua, ngoài ra còn hiểu sâu rộng cả phong tục, bản sắc dân tộc.
Mọi người hiểu và nghĩ về luật sư như vậy, cho nên mỗi khi bản thân, gia đình có điều gì vướng mắc không chỉ riêng vấn đề pháp lý đều tìm đến luật sư, nhờ luật sư tư vấn. 
Vì vậy hoạt động nghề luật sư luôn mang tính hướng dẫn.
Yêu cầu của hoạt động này là hướng dẫn cho đương sự hiểu đúng tinh thần, nội dung pháp luật để biết cách xử sự, tháo gỡ vướng mắc của họ phù hợp với pháp luật, đạo ý xã hội. Hoạt động hướng dẫn của luật sư còn là sự chỉ dẫn cái đúng, cái sai, việc gì được làm. Đối với người có tội, tuy chức năng của luật sư không phải lên án, buộc tội họ trước pháp luật, nhưng luật sư phải chỉ rõ tội lỗi họ đã làm, từ đó giúp cho họ hướng đến cái thiện. Nếu có căn cứ cho rằng họ không có tội hoăc họ bị qui kết sai tội hay  mức trừng phạt nặng so với hành vi vi phạm của họ thì luật sư phải sử dụng mọi biện pháp mà pháp luật cho phép nhằm chứng minh họ không có tội, kết sai tội và gỡ tội cho họ.
  Tính chất phản biện
         Đối với hoạt động nghề nghiệp luật sư, tính chất phản biện được hiểu là luật sư vận dụng  các lý lẽ của mình để phản bác lại những lý lẽ, ý kiến, quan điểm của người khác mà mình cho là không đúng.
Tính chất phản biện trong hoạt động nghề nghiệp luật sư thông thường thể hiện rõ nét nhất trong hoạt động tố tụng hình sự. Điều 36, khoản 3 Bộ luật TTHS qui định: “Người bào chữa có nghĩa vụ sử dụng mọi biện pháp do pháp luật để làm sáng tỏ những tình tiết xác định bị can, bị cáo vô tội, những tình tiết giảm nhẹ TNHS của bị can, bị cáo; giúp bị can, bị cáo về mặt pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ.”
Qui định này là cở pháp lý đảm bảo tính chất phản biện của luật sư trong quá trình hoạt động tố tụng hình sự. Tính chất phản biện là nghiã vụ pháp lý của luật sư phải thực hiện.
Tuy nhiên nhiều người đã lầm tưởng tính chất phản biện nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo với việc bao che tội phạm.
Tính chất phản biện khác ngụy biện ở chỗ, phản biện phải dựa trên sự thông hiểu tường tận vệ pháp lý và đạo lý. Phản biện phải lấy pháp luật và đạo đức xã hội làm chuẩn mực để xem xét mọi khía cạnh của sự việc nhằm xác định rõ đâu là đúng đâu là sai, thế nào là trái thế nào là phải từ đó đề xuất những biện pháp phù hợp loại bỏ cái sai, bảo vệ cái đúng, lẽ phải đó chính là bảo vệ công lý.
Còn ngụy biện đó là sự cố ý dùng những lý lẽ tưởng chừng đúng nhưng thực ra là sai, để rút ra những kết luận xuyên tạc không đúng sự thật. Hoạt động luật sư cần đảm bảo sao cho phản biện của mình có khoảng cách rõ nét với ngụy biện. Đó là đạo đức nền tảng của nghề luật sư.
Trong trường hợp, luật sư không phát hiện ra điều gì sai, không có cơ sở để phản biện thì vai trò của luật sư có cần thiết nữa không?
Khi người tiến hành tố, cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án hoàn toàn đúng pháp luật, nhận định, kết luận hoàn toàn chuẩn xác, thì không còn chỗ cho luật sư phản biện, vậy hoạt động của luật sư trong trường hợp này là người chứng kiến.
Vai trò là người chứng kiến của luật sư không phải là không quan trọng. Có sự hiện diện của luật sư là chỗ dựa tin cậy của bị can, bị cáo. Sự chứng kiến của luật sư trong khi lấy lời khai, khi đối chất, khi xét xử chắc chẳn rằng quyền và lợi ích hợp pháp mà pháp luật dành cho họ sẽ được đảm bảo. Dù họ là người phạm tội, họ phải chịu sự trừng phạt của pháp luật nhưng không ai có quyền tra tấn, đánh đập, hành hạ họ về thể chất cũng như tinh thần. Có người kém hiểu biết hoặc do quá sợ hãi, không có tội mà vẫn ký vào biên bản nhận tội dù biết tội đó đặc biệt nghiêm trọng, có thể bị áp dụng mức hình phạt cao nhất. Điển hình như vụ “Ai giết chị Là” ở Đông Triều, Quảng Ninh, vụ V-A- K ở Gia Lâm, Hà Nội, vụ Nguyễn Hữu Đạo ở Thanh Hóa. Điều đáng nói là các vụ án này đều không có sự tham gia có tính chất phản biện của luật sư.
Do vai trò, tác dụng của hoạt động nghề luật sư nên Điều 3 Luật luật sư năm 2007 đã nêu rõ “ hoạt động nghề nghiệp của luật sư nhằm góp phần bảo vệ công lý, phát triển kinh tế và xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.”. Nghị quyết 08 của Bộ chính trị viết “Các cơ quan Tư pháp có trách nhiệm tạo điều kiện để luật sư tham gia vào quá trình tố tụng, tham gia hỏi cung bị can, bị cáo, nghiên cứu hồ sơ vụ án, tranh luận dân chủ tại phiên tòa…”
               Ba tính chất hoạt động nghề nghiệp của luật sư, đã thể hiện sự dặc thù và sự khác biệt nghề luật sư với các ngành nghề khác. Người làm nghề kinh doanh, khi họ dự đoán được kết quả kinh doanh không có lợi nhuận hay thua lỗ thì không bao giờ họ làm. Người làm nghề luật sư, biết công việc mình làm là nguy hiểm nhưng vẫn phải thực hiện. Chẳng hạn bào chữa cho bị cáo phạm tội giết người, biết rõ gia đình nạn nhân có thể trả thù nhưng luật sư không được phép từ chối bào chữa khi được chỉ định.
Chính sự đặc thù nghề nghiệp, nên nghề luật sư được xã hội tôn vinh là nghề cao quý.
        Vậy làm thế nào để được coi là người luật sư có đạo đức, văn hóa trong nghế nghiệp?
        Ở nước ta, tiêu chuẩn để trở thành luật sư theo Luật luật sư năm 2007, tại Điều 10 qui định: “ Công dân Việt Nam, trung thành với tổ quốc, tuân thủ hiến pháp và pháp luật, có phẩm chất đạo đức tốt, có bằng cử nhân luật, đã được đào tạo nghề luật sư, đã qua thời gian thực tập hành nghề luật sư, có sức khỏe đảm bảo hành nghề luật sư thì có thể trở thành luật sư.”
Như vậy, luật sư ngoài việc hiểu biết sâu sắc về chuyên môn, nghiệp vụ, thành thạo trong các thao tác, nhuận nhuyễn trong việc vận dụng pháp luật, nhạy bén trong việc ứng xử các tình huống phức tạp còn phải có phẩm chất đạo đức tốt.
Trước hết, luật sư phải ý thức được trách nhiệm của mình là bảo vệ công lý, góp phần đem lại sự công bằng cho con người trong  xã hội. Nên một yêu cầu tiên quyết đối với luật sư, họ phải là công dân tốt, gương mẫu chấp hành hiến pháp, pháp luật, đăc biệt pháp luật liên quan mật thiết đối với nghề nghiệp của mình.


THỰC TRẠNG ĐẠO ĐỨC, VĂN HÓA NGHỀ LUẬT SƯ VÀ NGUYÊN NHÂN CỦA NÓ Ở VIỆT NAM
 1.Thực trạng
       Trong xu thế hội nhập và phát triển kinh tế, vai trò của nghề luật sư rất quan trọng. Tuy nhiên vị trí,vai trò của luật sư trong xã hội Việt Nam chưa được quan tâm đúng mức. Để đưa vị trí nghề luật sư ngang tầm với giá trị của nó cần phải nhận diện chính xác về thực trạng đạo đức, văn hóa nghề luật sư là điều hết sức cần thiết và thiết thực.

*  Thứ nhất, đạo đức, văn hóa pháp lý nói chung, đạo đức ,văn hóa các nghề tư pháp trong đó có nghề luật sư chưa được đề cập trong công tác đào tạo luật ở các trường đại học.
       Trong quá trình đào tạo luật, chủ yếu người học được trang bị kiến thức nhằm áp dụng luật để xử lý, giải quyết các tình huống cụ thể sao cho đúng qui định của pháp luật. Mảng kiến thức về đạo đức, văn hóa nghề nghiêp đối với từng chức danh tư pháp hầu như không được trang bị. Do đó có thể nói,  người học bị hổng về mảng kiến thức này. Chỉ khi bước vào từng nghề cụ thể, người hoc mới tự học hỏi và được rèn luyện thông qua việc tuân thủ qui chế ngành.
        Hiện nay trong quá trình đào tạo các chức danh tư pháp như thẩm phán, kiểm sát viên, luật sư, người học được trang bị trên lý thuyết về đạo đức nghề nghiệp nhưng người học tự tìm hiểu, rèn luyện là chính.
Trong quá trình đào tạo các chức danh tư pháp ở Pháp, người học được học môn đạo đức học. Các học viên được đi thực tập tại các nơi xét xử, văn phòng luật sư. Họ phải chạm chán trên thực tế những vấn đề không tương hợp, về lòng không trung thực, về thái độ dè dặt với những liên lụy về đạo đức nghề nghiệp khác nhau trong khi thực hiện nghĩa vụ của mình. Từ đó người học nhạy cảm với những vấn đề không được đề cập trong văn bản pháp luật.
Hiện nay Việt Nam có nhiều cơ sở đào tạo luật với nhiều hình thức đào tạo khác nhau, nhưng chưa cơ sở nào chú trọng đào tạo đạo đức, văn hóa pháp lý nói chung.
Nên người học pháp luật không phải ai cũng có đạo đức, văn hóa pháp luật được thể hiện trong nghề luật của mình.
*  Thứ hai, môi trường pháp chế chưa nghiêm
      Để đạo đức, văn hóa nghề nghiệp tồn tại và phát triển, trước hết phải có môi trường nuôi dưỡng nó. Cũng thế đối với đạo đức, văn hóa nghề luật sư phải có môi trường để nó hình thanh, tồn tại và phát triển. Điều này có nghĩa là, hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, trong xã hội pháp luật phải được tôn trọng tuyệt đối, cơ chế thực thi pháp luật , bảo vệ pháp luật chặt chẽ và hiệu quả.Tuy nhiên ở nước ta do nhiều nguyên nhân đem lại mà tính pháp chế trong hoạt động pháp lý chưa cao. Hiện tượng văn bản pháp lý chồng chéo nhau, văn bản luật không có giá trị bằng văn bản dưới luật, văn bản luật không được chấp hành nghiêm chỉnh, coi thường pháp luật không phải hiếm thấy ở nước ta. Tình hình này không những làm giảm hiệu lực của hệ thống pháp luật trong việc điều chỉnh xã hội mà còn gây mất niềm tin của người dân đối với pháp luật, người thực thi, áp dụng pháp luật. Nói rộng hơn, thực trạng văn hóa pháp lý nước ta đã mất đi một phần giá trị cần thiết của nó trong sư đem lại công bằng, khách quan, hờp pháp. Từ đó dẫn đến nhiều hệ lụy, chẳng hạn CQTHTT, NTHTT,luật sư là những người có cùng một mục đích là tìm ra sự thật khách quan của vụ việc, giải quyết vụ án đúng pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân. Nhưng thực tế không ít CQTHTT, NTHTH gây khó khăn cho luật sư trong viêc thực hiện nhiêm vụ của mình hay những quan điểm luật sư đưa ra không được quan tâm. Đôi khi tao ra mối quan hệ căng thẳng giữa luật sư với NTHTH. Ví dụ điển hình, sau khi kết thúc phiên tòa vụ án Vườn điều năm 2004 tỉnh Bình Thuận. Cuộc họp liện ngành Tòa án. Viện kiểm sát, Công an tỉnh Bình Thuận đã ra văn bản gửi  Đoàn luật sư tp Hà Nội, tp Hải Phòng và các cơ quan liên quan quản lý ba luật sư bào chữa cho những bị cáo trong vụ án với kiến nghi xử lý vì đã “đã xâm phạm uy tín của CQTHTT, xâm phạm danh dự, nhân phẩm của điều tra viên…”
Và không ít luật sư đã biến mình thành “thầy cò, thầy kiện”, xuyên tạc sự thật khách quan bằng lời lẽ ngụy biện cốt theo yêu cầu của khách hàng, trái ra phải, phải ra trái, có tội nói là không tội, không tội lại đe dọa là có hoặc khung hình phạt ở mức cao để hàng sợ mà chi tiền. Cơ chế pháp lý không tốt tạo điều kiện cho những người kém phẩm chẩt như thế trục lợi bất chính.
*  Thứ ba, công tác trợ giúp pháp lý mới được hình thành, hoạt động còn hạn chế
      Hiện nay riêng ở tp. Hồ Chí Minh  thành lập được bảy trung tâm trợ giúp pháp lý miễn phí. Trong điều kiện công tác tuyên truyền pháp luật có nhiều khó khăn thi các hoạt động tợ giúp pháp lý càng thiết thực, vì nó đáp ứng nhu cầu bức xúc của nhân dân. Hầu hết những người tư vấn là luật sư hay luật gia. Họ góp phần vào việc tuyên truyềng pháp luật, giải quyết các vướng mắc pháp lý cho dân,  từ đó phổ biến pháp luật cho người dân và cũng nâng cao văn hóa pháp lý  trong cộng đồng.Tuy nhiên hệ thống các tổ chức tư vấn pháp luật, trợ giúp pháp lý chưa đủ mạnh trong việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của dân, hoạt động này mới chỉ dừng lại ở tư vấn, soạn thảo đơn.
Thêm vào đó, hoạt động của các đoàn luật sư, hội luật gia, các trung tâm hõ trợ pháp lý chưa đồng bộ giữa các địa phương, những tổ chức náy tập trung ở các thành phố lớn, vùng nông thôn, miền núi có nơi không có mặc dù nơi đây người dân rất có nhu cầu.
2. Nguyên nhân
      Nguyên nhân dẫn đến thực trạng đạo đức, văn hóa nghề luật sư chưa cao có nhiều, song những nguyên nhân chủ yếu là do:
*   Hệ thống pháp luật trong thời kỳ đổi mới chưa hoàn thiện, ổn định về các chuẩn mực, cách thức tác động
Nói rộng ra, văn hóa pháp lý là nền tảng để ban hành quy phạm pháp luật(QPPL), hoàn thiện hệ thống pháp luật. Ngược lai, hệ thống pháp luật là một trong những tiêu chí đễ đánh giá văn hóa pháp lý, là cơ sở để củng cố, bảo vệ giá trị văn hóa pháp lý. Hiện nay chất lượng văn bản QPPL chưa cao, nhiều qui định pháp luật không rõ ràng, thiếu ổn định, công tác hệ thống hóa pháp luật không được tiến hành thường xuyên, gây khó khăn cho việc tiếp cận, nhận thức và thực hiện, áp dụng pháp luật. Dẫn đến sự hiểu và áp dụng không thống nhất giữa các CQNN.
Riêng vấn đề quy định đạo đức nghề nghiệp luật sư, một nghề đăc thù đòi hỏi phải trong sáng về đạo đức, văn hóa. Do đó phải tuân thủ những quy tắc đạo đức nghề nghiệp như thế mới nâng cao uy tín, vị thế của nghề mình trong xã hội. Luật sư chịu sự điều chỉnh bởi Luật luật sư và Bản quy tắc đạo đức nghề luật sư.Hiện nay, bản quy tắc này có nhiều bất cập nhưng chưa có điều kiến sửa. Do đó mõi Đoàn luật sư có quy định cho thành viên của mình, chưa có quy đình thống nhất áp dụng cho toàn luật sư Việt Nam.
Bên cạnh đó, một số người thực thi, áp dụng pháp luật coi thường pháp luật hoặc lợi dụng lỗ hổng pháp luật để nhũng nhiễu, hạch sách người dân nhằm kiếm lợi cho mình, bản thân người luật sư muốn làm được việc phải bước qua ngưỡng cửa đạo đức nghề nghiệp.
*  Luật sư chưa thật sự có ý thức xây dựng đạo đức, văn hóa nghề nghiệp
      Bên cạnh những luật sư thật sự có tâm huyết với nghề, đóng góp công sức xây dựng hình ảnh người luật sư chuẩn mực, khả kính và họ đã thực sự được xã hội tôn trọng thì không ít những luầt sư chỉ vì đồng tiền đã chà đạp lên tất cả giá trị đạo đức, văn hóa nghề nghiệp. Điển hình như luật sư Quốc Dũng thuộc Đoàn luật sư tp.Hồ Chí Minh. Luật sư là một nghề và có thu nhập từ nghề ấy. Tùy vào khả năng của mỗi luật sư mà họ có thu nhập cao hoặc thu nhập thấp từ nghề của mình. Tuy nhiên không vì lợi ích riêng của mình mà gây thiệt hại cho các đồng nghiệp. Điều này là trái với lẽ công bằng theo phạm trù đạo đức. Bởi lợi ích mình có được từ nghề luật sư thì chỉ mình hưởng, nhưng những lỗi do mình gây ra từ hoạt động nghề nghiệp thì không những mình mà còn cả đồng nghiệp cũng phải chịu.


HƯỚNG HOÀN THIỆN
         Từ việc nhận ra những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến thực trạng đạo đức, văn hóa nghề luật sư còn nhiều khiếm khuyết, tôi xin đưa ra những phương hướng khắc phục để xây dựng đạo đức,văn hóa luật sư ngày một hoàn thiện hơn.
       Về phương diện lý luận, mục  tiêu của đổi tượng xây dựng đạo đức,văn hóa nói chung là nhằm tạo ra hai yếu tố môi trường đạo đức, văn hóa và con người đạo đức, văn hóa. Hai nhân tố này tác động biện chứng với nhau. Trong đó yếu tố con người là quyết định. Như thế xây dựng đạo đức, văn hóa nghề nghiệp luật sư không thể không xây dựng con người luật sư có đạo đức văn hóa nghề nghiệp. Mặt khác vì môi trường đạo đức,văn hóa nghề luật sư chỉ có thể xuất hiện trên cơ sở nhận thức pháp luật và sự nhận thức về các giá trị xã hội của pháp luật. Nên vai trò của tư tưởng pháp luật, thái độ, tâm lý pháp luật của người luật sư trong xử sự trên thực tế là rất quan trọng.
Vậy để hoàn thiện đào đức, văn hóa nghề luật sư
Trước hết phải xây dựng một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, đồng thời người có thẩm quyền của CQNN thưc thi, áp dụng pháp luật phải có tinh thần thượng tôn pháp luật. Đây là nền tảng của đạo đức, văn hóa của những người hành nghề tư pháp nói chung. Thực trạng thiếu đạo đức, văn hóa pháp lý đang diễn ra một cách nghiêm trọng cả ngoài xã hội cũng như trong CQNN dưới nhiều hình thức khác nhau: chạy án, đưa nhận hối lộ, thái độ coi thường pháp luật, vi pham pháp luật một cách nghiêm trọng. Thưc trạng trên đây thêm một lần nữa thấm thía câu nói của Marx: “Pháp luật phải lấy xã hội làm cơ sở, pháp luật phải là sự biểu hiện của lợi ích và nhu cầu chung của xã hội do một phương thức sản xuất vật chất nhất định sản sinh ra mà không phải do ý muốn tùy tiện của một cá nhân”.
            Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền cũng xác định rõ mối quan hệ mật thiết giữa pháp luật và đạo đức chỉ rõ rằng: “ Xây dựng nhà nước phải dựa trên hai tiêu chuẩn, trong đó đạo đức làm gốc, pháp luật làm chuẩn. Theo đó nếu chỉ chú trọng xây dựng pháp luật mà thiếu quan tâm đến việc xây dựng một hệ thống chuẩn mực đạo đức cho cán bộ nhà nước sẽ không tránh khỏi tha hóa về nhân cách, dẫn đến khủng hoảng xã hội, chân lý không được tôn trọng.”. Do đó, phải đảm bảo hoàn thiện pháp luật gắn liền với việc phát huy, đề cao giá trị đạo đức và đặt chúng trong mối quan hệ với việc xây dựng hoàn thiện  thể chế dân chủ. Nên người thực thi pháp luật, phải được đào tạo về pháp luật, nắm vững và thường xuyên cập nhật kiến thức pháp luật mới để thi hành đúng pháp luât, đồng thời phải luôn rèn luyện đạo đức nghề nghiệp.
            Bên cạnh đó cần nâng cao sự hiểu biết pháp luật cho người dân, để họ xử sự đúng pháp luật. Ở đây vấn đề tuyên truyền, giáo dục pháp luật cho người dân có ý nghĩa quan trọng, tạo môi trường văn hóa pháp lý trong xã hội, thuận lợi cho việc rèn luyện đạo đức nghề nghiệp luật sư.
*   Luật sư không ngừng trau dồi đạo đức nghề nghiệp của mình
      Ngoài việc trau dồi kiến thức chuyên môn, trình độ nghiệp vụ vững vàng, luật sư phải có kiến thức sâu rộng về xã hội khác. Điều này thật sự cần thiết cho nghề luật sư, chỉ khi am hiểu cuộc sống  xã hội luật sư mới phân tích, nhận định, đánh giá được chính xác vấn đề, sự việc đang giải quyết, đưa ra những quan điểm đúng đắn, lập luận thuyết phục được đa số cộng đồng chấp nhận, từ đó bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của thân chủ một cách tốt nhất.
Bên cạnh đó, phẩm chất trung thực không thể thiếu ở người luật sư. Trung thực tức là tôn trọng sự thật, tôn trọng lẽ phải và công lý trong các quan hệ xã hội. Để có đức tính trung thực đòi hỏi người luật sư có đức tính dũng cảm và ngay thẳng. Luật sư trước hết phải ngay thẳng đối với chính mình, không vì lợi ích riêng mà bẻ cong công lý hay giúp cho người khác bẻ cong công lý. Tiếp đến ngay thẳng với người khác, trước hết là đối với người mà mình có nghĩa vụ bảo vệ và đối phương của người mà mình có nghĩa vụ bảo vệ. Những gì người mình bảo vệ thực sự bị xâm hại trái pháp luật thì bằng hết khả năng của mình phải lấy lại sự công bằng cho họ, điều gì người mình bảo vệ xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác thì không được tìm mọi thủ đoạn để bao che. Dũng cảm ở đây là dám đấu tranh cho công bằng, chân lý, lẽ phải.
Tình người cũng là một khái niệm đạo đức xã hội cũng là một trong những đức tính cần có của người luật sư. Tình người là một trong những động lực giúp cho luật sư làm việc hết khả năng không một chút vị lợi đối với người  mình có nghĩa vụ bảo vệ .
    Những đức tính này cho người luật sư một nguồn lực nội tâm, nguồn lực ấy được thể hiện ra bên ngoài qua phong cách, cử chỉ,ngôn ngữ của luật sư tạo nên sức mạnh đủ sức lôi cuốn, khuất phục lòng người. Đó là đạo đức, văn hoá nghề nghiệp luật sư.
   Như vậy đạo đức, văn hoá là những khái niệm cụ thể, bao gồm các quan điểm, cách ứng xử, hành động, những phẩm chất, sự hiểu biết về nhiều lĩnh vực mà người luật sư phải được trang bị trong trường học cũng là cái gì đó trừu tượng mà người luật sư phải tự học hỏi, tích luỹ trong suốt quá trình hoạt động nghế nghiệp của mình.
   Thật khó để đưa ra một nguyên mẫu chung nào, một mô hình thật cụ thể, chính xác cho đạo đức, văn hoá nghề luật sư. Tuy nhiên  thông qua hoạt động nghề nghiệp có thể đánh giá được đạo đức của một luật sư và nhận ra vẻ đẹp văn hoá trong nghề nghiệp của họ.
Người ta so sánh nghề luật sư cũng như nghề thầy thuốc, trong bất kì giờ phút nào cũng phải phục vụ “bệnh nhân” một cách vô điều kiện, cứu người không chỉ chỉ vì tiền mà vì công bằng xã hội, góp phần bảo vệ cơ thể xã hội thật khoẻ mạnh. Đây là nghề khó, do vậy đòi hỏi luật sư thật sự yêu nghề, tuyệt đối trung thành với lý tưởng đã chọn.
Xây dựng đạo đức,văn hoá nghề nghiệp luật sư là một quá trình rèn luyện liên tục về bản thân của mỗi luật sư. Quá trình rèn luyện ấy không tránh khỏi thiếu sót, lầm lỗi, điều quan trọng là biết cách khắc phục. Nhưng tốt nhất đừng để “nhúng chàm” vì nghề luật sư là nghề mà nhân thân có ảnh hưởng rất lớn và cũng đừng để câu nói “mua danh ba vạn bán danh ba đồng” tồn tại trong cuộc đời làm nghề luật sư của mình.
            Tính khách quan tột bậc, trung thực, ngay thẳng, sự hiểu biết sâu rộng kiến thức chuyên môn và xã hội, sự lịch thiệp tế nhị cao về xử sự cá nhân luôn hoà quyện vào nhau trong hoạt động nghề nghiệp hình thành nên cơ sở đạo đức, văn hóa nghề nghiệp luật sư. 

         Luật sư là một nghề còn non trẻ ở nước ta trong thời kì đổi mới, nên vấn đề đạo đức, văn hoá nghề luật sư là những khái niệm tương đối mới, cần có quá trình phân tích, đào sâu tìm hiều.
Trong khả năng nhận thức của mình, tôi xin trình bày một số khía cạnh về vấn đề đó mong góp phần xây dựng hình ảnh người luật sư Việt Nam ngày một hoàn thiện. Đó là người luật sư, đội ngũ luật sư đầy khả kính, xứng đáng với vị trí mà xã hội tôn vinh là nghề cao quý.