Tổ chức tội phạm, tội phạm có tổ chức và phạm tội có tổ chức
là những khái niệm phức tạp, có mối quan hệ hữu cơ, chặt chẽ với nhau. Việc làm
sáng tỏ ba khái niệm này có ý nghĩa to lớn không những về mặt lý luận, mà còn
có ý nghĩa thực tiễn trong giai đoạn hiện nay.
Trước hết, cần khẳng định, tổ chức tội phạm, phạm tội có tổ
chức là hai khái niệm của luật hình sự, còn tội phạm có tổ chức là một khái
niệm của tội phạm học, nhưng ba khái niệm này đều có một điểm chung: đều có
thuật ngữ ‘’tổ chức’’, mà thuật ngữ này thể hiện tính chất của một sự vật, hiện
tượng được tập hợp một cách thống nhất; các yếu tố cấu thành tổ chức có mối
quan hệ chặt chẽ với nhau. Nói cách khác, những người tham gia tổ chức tội
phạm, thực hiện tội phạm bằng phương thức phạm tội có tổ chức hoặc thực hiện
các tội phạm có tổ chức đều có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.
Bộ luật Hình sự năm 1999 của nước ta, mặc dù chưa đưa ra
khái niệm tổ chức tội phạm, nhưng cũng đã đề cập đến tổ chức nhằm lật đổ chính
quyền nhân dân tại Điều 79. Thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm đã đặt ra
vấn đề về tội phạm mà lý luận hình sự cần nghiên cứu, giải quyết và đề xuất
hướng quy định trong Bộ luật hình sự. Theo chúng tôi, việc quy định tổ chức tội
phạm trong Bộ luật Hình sự cần tránh cả hai xu hướng sau đây:
Xu hướng thứ nhất quy định tổ chức tội phạm với phạm vi quá
rộng, dẫn tới xử lý tràn lan, tạo nên hình ảnh không đúng về một xã hội có quá nhiều
tổ chức tội phạm.
Xu hướng thứ hai cho rằng không cần thiết phải quy định tổ
chức tội phạm trong Bộ luật Hình sự, vì đã có quy định về phạm tội có tổ chức.
Xu hướng này bất hợp lý ở chỗ tổ chức tội phạm là một tổ chức bất hợp pháp được
thành lập với mục đích để thực hiện tội phạm; sự hiện hữu của tổ chức này đã
gây nguy hiểm lớn cho xã hội, bất kể tổ chức này đã thực hiện tội phạm hay chưa
thực hiện tội phạm; thực hiện tội phạm một lần hay nhiều lần; thực hiện một tội
phạm hay nhiều tội phạm; thực hiện tội phạm theo đúng với ý đồ hay chưa đúng
với ý đồ của những tên cầm đầu tổ chức.
Theo chúng tôi, Bộ luật Hình sự cần bổ sung quy định về khái
niệm tổ chức tội phạm như sau: Tổ chức tội phạm là một tập hợp người có sự liên
kết, phân công, phối hợp hoạt động với nhau do một hoặc một số cá nhân thành
lập, điều khiển một cách có kế hoạch nhằm thực hiện một hoặc nhiều tội phạm.
Đồng thời, Bộ luật Hình sự cần bổ sung quy định người thành lập, tham gia tổ
chức tội phạm phải chịu trách nhiệm hình sự.
Từ khái niệm trên cho thấy, trong tổ chức tội phạm bao giờ
cũng có sự phân công vai trò rõ ràng giữa các thành viên như trong tổ chức tội
phạm do Trương Văn Cam cầm đầu, đã có sự phân công, phối hợp giữa các thành
viên: Có tên chuyên trách hối lộ cán bộ Công an cấp quận, có tên chuyên trách
hối lộ cán bộ Công an cấp thành phố... Điều này hoàn toàn phù hợp với quan điểm
của Giáo sư người Đức Gunter Buschges khi ông cho rằng một trong những đặc
trưng cơ bản của tổ chức là ‘’cấu trúc phân công lao động” (1) . Ngoài ra, tổ chức tội phạm bao giờ cũng có tên
chủ mưu, cầm đầu như trong tổ chức tội phạm do Trương Văn Cam cầm đầu, còn có
những tên chỉ huy khác như Hiệp ‘’phò mã’’, Thuyết ‘’chăn voi’’...
Trong các tổ chức tội phạm, maphia là tổ chức tội phạm có kỷ
luật cao nhất, phương thức hoạt động bí mật nhất và có sự liên kết giữa tội
phạm với quyền lực công.
Khái niệm tổ chức tội phạm có mối quan hệ hữu cơ với khái
niệm tội phạm có tổ chức. Nếu như tổ chức tội phạm là một khái niệm của luật
hình sự, thì tội phạm có tổ chức là một khái niệm của tội phạm học. Cần phải
thấy rằng, mặc dù ngay từ những năm giữa của thập kỷ 70, trong quá trình chuẩn
bị Hội nghị lần thứ V của Liên hợp quốc về đấu tranh chống và phòng ngừa tội
phạm, các chuyên gia của Liên hợp quốc đã bắt đầu nghiên cứu về tội phạm có tổ
chức, nhưng cho đến nay, xung quanh khái niệm tội phạm có tổ chức vẫn còn có
nhiều ý kiến trái ngược nhau. Người ta đã nhầm lẫn giữa tổ chức tội phạm như đã
trình bày ở trên với tội phạm có tổ chức: Thí dụ khái niệm tội phạm có tổ chức
đã được đưa ra trong Hội thảo quốc tế của Liên hợp quốc về đấu tranh chống tội
phạm, tổ chức ở Xuzơđan, Liên Xô trước đây, từ ngày 21 đến ngày 25-9-1991:
‘’Tội phạm có tổ chức được hiểu là nhóm những cộng đồng tội phạm bền vững, hoạt
động phạm tội như một nghề nghiệp, hình thành hệ thống bảo vệ chống sự kiểm
soát của xã hội với việc sử dụng các phương tiện bất hợp pháp như bạo lực, đe
dọa, tham nhũng và trộm cắp ở phạm vi rộng lớn” (2).
Theo quan điểm của các luật gia Mỹ, thì ‘’tội phạm có tổ
chức là hoạt động phạm tội (Criminal activity) của các tổ chức chính quy, rất
phát triển và hướng mọi nỗ lực để đạt được lợi nhuận thông qua những phương
tiện bất hợp pháp” (3). Quan điểm này có hạt
nhân hợp lý ở chỗ không nhầm lẫn giữa tổ chức tội phạm với tội phạm có tổ chức.
Theo chúng tôi, tội phạm có tổ chức là một khái niệm của tội
phạm học và có mối quan hệ hữu cơ với khái niệm tình hình tội phạm. Là khái
niệm cơ bản đầu tiên của tội phạm học, tình hình tội phạm được hiểu là ‘’một
hiện tượng xã hội pháp lý tiêu cực, được thay đổi về mặt lịch sử, mang tính
giai cấp, bao gồm tổng thể thống nhất (hệ thống) các tội phạm thực hiện trong
một xã hội (quốc gia) nhất định và khoảng thời gian nhất định’’ (4). Có thể nhận xét, mối quan hệ giữa tình hình tội
phạm với tội phạm có tổ chức là mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng.
Từ sự phân tích ở trên, chúng ta có thể đưa ra khái niệm tội
phạm có tổ chức như sau: Tội phạm có tổ chức là hệ thống các tội phạm do các tổ
chức tội phạm thực hiện trong một khoảng thời gian, không gian nhất định.
Tội phạm có tổ chức có tính chất nguy hiểm cho xã hội cao
hơn những tội phạm do những người phạm tội đơn lẻ thực hiện bởi lẽ:
- Những loại tội phạm có tính chất nguy hiểm cho xã hội cao
thường do các tổ chức tội phạm thực hiện.
- Những tội phạm do tổ chức tội phạm thực hiện thường có sự
tập trung sức lực, trí tuệ, sự phối hợp, tương trợ lẫn nhau giữa những kẻ phạm
tội, điều đó tạo điều kiện cho các tổ chức tội phạm không chỉ thực hiện tội
phạm một cách dễ dàng hơn mà trong nhiều trường hợp có thể gây ra những thiệt
hại nghiêm trọng hơn, dễ dàng che giấu dấu vết của tội phạm để chống lại sự
điều tra, khám phá của các cơ quan bảo vệ pháp luật. Về mặt tâm lý, những thành
viên trong tổ chức tội phạm do dựa dẫm vào nhau nên quyết tâm phạm tội thường
là cao hơn so vời các trường hợp phạm tội riêng lẻ.
Đương nhiên, các tội phạm do tổ chức tội phạm thực hiện đều
bằng phương thức phạm tội có tổ chức. Từ đây, xuất hiện mối quan hệ hữu cơ giữa
tổ chức tội phạm, tội phạm có tổ chức và phạm tội có tổ chức.
Khác với khái niệm tổ chức tội phạm, khái niệm tội phạm có
tổ chức chưa được chính thức ghi nhận về mặt pháp lý, khái niệm phạm tội có tổ
chức đã được quy định tại khoản 3 Điều 17 Bộ luật Hình sự năm 1985, cũng như
tại khoản 3 Điều 20 Bộ luật Hình sự năm 1999 của nước ta: ‘’Phạm tội có tổ chức
là hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện
tội phạm”. Tình tiết phạm tội có tổ chức không những được quy định là tình tiết
tăng nặng trách nhiệm hình sự tại Điều 39 Bộ luật Hình sự năm 1985, Điều 48 Bộ
luật Hình sự năm 1999, mà còn được quy định là tình tiết tăng nặng định khung
hình phạt tại nhiều điều luật trong Bộ luật Hình sự năm 1985, Bộ luật Hình sự
năm 1999. Từ khái niệm phạm tội có tổ chức nói trên cho thấy, đây là phương thức
phạm tội đặc biệt để phân biệt với phương thức phạm tội riêng lẻ hoặc với các
phương thức phạm tội dưới các hình thức đồng phạm khác.
Mặc dù khái niệm phạm tội có tổ chức đã được quy định trong
Bộ luật Hình sự, nhưng về mặt lý luận luật hình sự, theo chúng tôi, khái niệm
phạm tội có tổ chức chưa tuân thủ đầy đủ quy tắc của lôgíc hình thức. Khoản 3
Điều 17 Bộ luật hình sự năm 1985 cũng như khoản 3 Điều 20 Bộ luật Hình sự năm
1999 quy định phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm..., trong khi đó khoa
học luật hình sự nước ta thừa nhận đồng phạm là một hình thức phạm tội đặc biệt
(5). Mâu thuẫn lôgíc dễ dàng nhận thấy: Đồng
phạm là hình thức phạm tội; phạm tội có tổ chức... là hình thức đồng phạm, nói
cách khác trong hai mệnh đề này, một mệnh đề đúng thì mệnh đề khác sai, không
thể cả hai mệnh đề đều đúng. Điều cần khẳng định, mệnh đề đồng phạm là hình
thức phạm tội đặc biệt là mệnh đề đúng vì nó được thừa nhận rộng rãi ở nước ta
và ở nhiều nước. Vì vậy, để đảm bảo chính xác, nên sử dụng cụm từ đồng phạm có
tổ chức thay thế cho cụm từ phạm tội có tổ chức. Từ đó, có thể đưa ra khái niệm
đồng phạm có tổ chức như sau: Đồng phạm có tổ chức là hình thức phạm tội có sự
cấu kết chặt chẽ giữa những người cùng tham gia vào việc thực hiện tội phạm.
Trong mối quan hệ giữa đồng phạm có tổ chức với tổ chức tội
phạm, cần khẳng định các tội phạm do tổ chức tội phạm thực hiện đều bằng phương
thức đồng phạm có tổ chức; ngược lại, không phải mọi trường hợp đồng phạm có tổ
chức đều do tổ chức tội phạm thực hiện, mà có thể do các nhóm đồng phạm thực
hiện, chỉ cần thỏa mãn điều kiện có sự cấu kết chặt chẽ giữa những người cùng
tham gia vào việc thực hiện tội phạm. Trong mối quan hệ giữa đồng phạm có tổ
chức với tội phạm có tổ chức, cần khẳng định mọi tội phạm thuộc phạm trù tội phạm
có tổ chức dứt khoát phải được thực hiện bằng phương thức đồng phạm có tổ chức;
ngược lại, không phải bất cứ tội phạm nào được thực hiện bằng phương thức đồng
phạm có tổ chức đều thuộc phạm trù tội phạm có tổ chức, mà chỉ những tội phạm
nào do các tổ chức tội phạm thực hiện mới thuộc phạm trù này./.
(1)
Xem: Gúnter Búschges, Nhập môn xã hội học có tổ chức. Nxb Thế giới, Hà Nội,
1996, tr. 49.
(2)
Xem: Cơ sở đấu tranh chống tội phạm có tổ chức. Nxb Inphơra, Matxcơva, 1996,
tr. 9 (tiếng Nga).
(3)
Xem: Jơhn E. Conkhn, Tội phạm học.. Nxb
Macmillan, New York, 1989, tr. 46 (tiếng Anh).
(4)
Xem: GS. TSKH ĐàoTrí úc (chủ biên) và các tác giả khác, Tội phạm học, luật hình
sự và luật tố tụng hìnnh sự việt Nam. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà
Nội, 1995, tr. 14.
(5) Xem: PGS.TS. Kiều Đình Thụ. Tìm hiểu luật Hình sự
Việt Nam.
Nxb thành phố Hồ Chí Minh, 1996, tr.1174.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét